BS Ðặng Trần Hào
Chân lạnh do thận âm suy (hư chứng)
Thận âm suy có nghĩa là phần âm của thận bị giảm xuống dưới mức bình thường, trong khi phần dương vẫn bình thường. Vì phần cách biệt giữa âm và dương là phần dương, mà dương thuộc hỏa, nhưng vì âm suy nên mới có phần hỏa này, nên Ðông y gọi phần này là hư hỏa (giả nhiệt), chứ không phải thực hỏa.
Vì thận âm suy, âm không đủ để thăng lên trên và dương không giáng xuống dưới được nên gây ra chân bị lạnh, nóng ở gan bàn chân, gan bàn tay và phần trước và sau ngực.
Như chúng ta đã biết vạn vật đồng nhất thể, vũ trụ vần xoay từ ngày (dương) sang đêm (âm). Cơ thể con người cũng phải biến đổi nhịp nhàng với vũ trụ, cho nên khi vũ trụ vần xoay từ dương sang âm, nghĩa là từ sáng qua chiều và đêm, nếu cơ thể yếu không thể điều chỉnh theo sự biến đổi của âm dương vũ trụ được, thì phần âm và dương trong cơ thể lại cách biệt nhiều hơn, sẽ gây ra phần giả nhiệt nhiều hơn. Cho nên người bị thận âm suy về chiều sẽ mệt mỏi hơn buổi sáng, càng về đêm hư hỏa (giả nhiệt) càng gia tăng, nếu lâu ngày không chữa, thận âm càng suy thêm, hư hỏa càng gia tăng thì gây ra ù tai liên tục. Theo ngũ hành, thận thuộc hành thủy và tim thuộc hành hỏa tương khắc với nhau, một khi thận âm suy sẽ làm tim không có chỗ tựa, nên đập nhanh hơn bình thường vào đêm. Vì tim tàng thần, mà thần không có chỗ để tàng nên gây ngủ chập chờn, ngủ không ngon giấc, nếu thận suy nhiều thì đôi khi thức trắng đêm, đi tiểu nhiều lần nhất là về đêm, phừng mặt để lâu gây nám mặt, dưới mắt quầng đen, miệng, lưỡi khô, khát nước, nhưng không uống nhiều. Nếu giả nhiệt ít thì tai nghe không rõ, nhiều thì bị ù tai, lở miệng, lở lưỡi làm ăn uống trở ngại, đau miệng, thắt lưng đau và yếu, chân yếu bất lực, chóng mặt, váng đầu, mắt khô và mờ nhất vào buổi chiều, ăn lúc ngon lúc không, mệt mỏi, gây ra thiếu máu không đủ để nuôi bắp thịt gây ra đau nhức, không đủ đưa ra ngoài da gây ra tê tứ chi, đồng thời dương không giáng xuống chân được gây lạnh chân, lạnh làm máu không lưu hoạt bình thường cũng là nguyên nhân làm nhức tứ chi, vai cổ, ra mồ hôi đêm, đàn ông xuất tinh sớm, đàn bà lạnh cảm. Lưỡi đỏ và khô. Mạch vi và sác.
Bài thuốc
Sơn thù du 9 grs
Quy bản 9 grs
Mẫu đơn bì 9 grs
Phục linh 9 grs
Trạch tả 9 grs
Hoài sơn 9 grs
Thục địa 18 grs
Quế bì 9 grs
Ngưu tất 6 grs
Ðương quy 9 grs
Hà thủ ô 9 grs
Nhục thung dung 6 grs
Nhiệm vụ của các vị thuốc:
-Toa thuốc có tác dụng bổ âm. Thục địa bổ thận và gia tăng lượng huyết, giảm đau.
-Sơn thù du làm ôn gan và giúp tăng cường sức mạnh cho thận.
-Mẫu đơn bì giúp thanh nhiệt và giảm huyết nhiệt.
-Sơn dược nuôi tỳ và tăng cường thận.
-Phục linh gia tăng tiểu tiện, giảm sưng, giảm thấp nhiệt trong tỳ.
-Trạch tả: Tăng cường thính giác, lợi tiểu, bổ mắt bớt khô và mờ.
-Quế bì dẫn hỏa qui nguyên, có nghĩa là đưa hỏa xuống chân, chân sẽ ấm và phần thượng tiêu sẽ mát thì tai sẽ nghe rõ hơn.
-Quy bàn: Bổ huyết.
-Ngưu tất: Dẫn thuốc xuống chân.
-Ðương quy, hà thủ ô: Bổ máu.
-Nhục thung dung: Bổ khí, tán hàn, ôn tứ chi.
Lạnh cả chân lẫn tay do thận dương suy
Thận dương suy còn gọi là mạng môn hỏa suy: bệnh nhân lạnh tứ chi, mặt trắng bệch hay đen kịt, đau vùng thắt lưng, ù tai, xuất tinh sớm, rụng răng trước tuổi, mất thính giác, liệt dương, nước tiểu trắng trong, đi tiểu nhiều lần, ngày nhiều hơn đêm, són đái, phù chân, nhạt miệng, rêu lưỡi trắng. Mạch trầm, trì và vô lực.
Bài thuốc
Lộc nhung 30 grs
Nhục quế 9 grs
Từ thạch 30 grs
Mẫu lệ 15 grs
Bá kích thiên 12 grs
Nhục thung dung 12 grs
Ngũ vị tử 20 grs
Tiểu hồi hương 15 grs
Tang phiêu tiêu 9 grs
Ích trí nhân 9 grs
Phụ tử 6 grs
-Lộc nhung, nhục quế, bá kích thiên, nhục thung dung, tiêu hồi hương, mẫu lệ: Bổ thận dương.
-Ngũ vị tử: Bổ tỳ vị.
-Tang phiêu tiêu, ích trí nhân: Bổ thận giảm tiểu nhiều lần.
-Phụ tử: Bổ dương, giúp kiểm soát được đường tiểu không bị són tiểu.
Cách dùng: Tán bột, luyện mật, làm viên, mỗi viên nặng 9 grs, ngày uống hai lần, sáng và tối, mỗi lần một viên, chiêu với rượu hâm nóng, vào lúc bụng chống. Cần uống lâu dài mới có kết quả.























































































