Tìm hiểu vấn đề vay tiền kinh doanh

Luật Sư LyLy Nguyễn


Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo di chúc và tín mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. website:
www.lylylaw.com

Tại Hoa Kỳ tuy là xứ tư bản kinh doanh tự do nhưng muốn phát triển nghiệp vụ không hẳn là việc dễ dàng chỉ vì vấn đề sinh tử nhất là cần có đầy đủ vốn liếng điều hành và mua cơ sở, trang cụ hoặc thanh toán nợ nần.

Trên thực tế việc gây vốn cho một dự án thương mại phần lớn tùy thuộc vào khả năng gây vốn của chính người chủ. Có hai loại gây vốn căn bản: hoặc bán cổ phần sở hữu công ty qua hình thức chứng khoán như đã trình bày kỳ trước, hoặc đi vay tiền để tài trợ hoạt động thương nghiệp. Bài này thảo luận về hình thức gây vốn thứ hai là vay tiền kinh doanh.

So sánh hai phương cách trên, việc bán chứng khoán lấy tiền gây vốn là vấn đề khó khăn hơn vì phải chịu dưới sự kiểm tra gắt gao của nhiều luật lệ của cả liên bang lẫn tiểu bang. Đối với nhiếu công ty vừa mới khởi sự hoạt động, nội vấn đề chi phí để tuân thủ hợp pháp với luật chứng khoán cũng như khó khăn trong việc thuyết phục người bỏ vốn ra đầu tư, cũng đủ làm cho việc phát hành cổ phiếu ra thị trường trở thành bất khả thi.

Một phương cách gây vốn khác là nhượng bớt quyền sở hữu xí nghiệp bằng cách thâu nhận người hùn vốn theo kiểu “công ty trách nhiệm hữu hạn” (Limited Liability Company viết tắt là LLC) nhưng làm như vậy chính chủ nhân nghiệp vụ ấy phải cam tâm từ bỏ bớt một số quyền lợi đồng thời còn phải thuyết phục những đối tượng muốn gia nhập cho họ có niềm tin rằng sẽ kiếm ra tiền nếu chịu vào hùn. Hơn nữa còn trở ngại khác khiến việc tuyển mộ thành viên vào tổ hợp hay công ty trách nhiệm hữu hạn bị giới hạn vì sự kiện người mới gia nhập không có quyền tự do chuyển nhượng lại cho người khác. Do đó công tác gây vốn bằng hình thức vay tiền kinh doanh từ ngân hàng, công ty tín dụng, hoặc các chương trình cho vay khác tại tiểu bang hay địa phương có phần dễ dàng hơn là phát hành chứng khoán. Ngoài ra có nhiều cách cho các doanh gia tìm cách vay tiền từ các nguồn tài chánh công và tư.

Các nguồn cho vay tiền thường thấy qua những quảng cáo dưới mỹ từ “công ty tài trợ” (financing company) mà thực tế là cho vay tiền lấy lãi (finance charge), ngược lại người vay nợ có thể sử dụng số tiền mượn để dùng vào việc gây vốn làm ăn buôn bán, mỗi tháng phải trả dần một số tiền vốn và lãi cho chủ nợ theo như giao ước. Dĩ nhiên người cho vay bao giờ cũng dè dặt và chỉ chấp thuận sau khi đã nắm rõ lý lịch cùng tình trạng kinh tế và doanh nghiệp của người vay. Vì thế bất cứ ai tìm cách mượn tiền để lập nghiệp vụ mới đều phải cung cấp cho chủ nợ tương lai những chi tiết về loại hình thức công ty sắp thiết lập. Tối thiểu người đi vay ấy phải tiết lộ tình trạng tài chánh cá nhân mình bao gồm tất cả mọi tài sản kể cả nghiệp vụ lẫn nhân cùng với tổng số tiền nợ. Đồng thời người xin vay phải sẵn sàng cung cấp tài liệu dự tính chi dụng số tiền vay ra sao nếu được chấp thuận cùng với phần giải thích mô tả mục đích kinh doanh. Ngoài ra người chủ nghiệp vụ còn phải khai rõ kinh nghiệm và khả năng quản trị của mình cùng với những nhân vật dự định ủy nhiệm vào chức vụ then chốt hàng đầu. Người cho vay còn đòi hỏi muốn biết người vay có bao nhiêu vốn kinh doanh cùng ước tính và trù liệu lợi tức nghiệp vụ có thể kiếm được trong năm đầu.

Nghiệp vụ thuộc loại bán lẻ (retail) và loại cung cấp dịch vụ (service-oriented) thường khó vay tiền hơn bởi vì số tiền vay thường dùng cho chi phí như hàng tồn kho, trang cụ cho nên tài sản dùng làm thế chấp thường không đủ lấy lại vốn trong trường hợp chủ nợ cần tịch biên đem phát mãi để lấy tiền thanh toán số tiền cho vay cả vốn lẫn lời. Thường lệ những nỗ lực kể trên là chủ yếu để được chấp thuận cho vay, bằng không thì phải dùng đến vốn liếng thế chấp. Vốn liếng (equity) là hiệu số của trị giá tài sản (asset) trừ đi tiền nợ (liability). Với căn bản đó sau đây là những cách vay tiền kinh doanh có thể thực hiện được.

Vay tiền ngân hàng qui ước (conventional bank loans) – Vay tiền ngân hàng là một lối vay tiền thông dụng cho doanh nghiệp mới. Loại vay có lợi nhất đối với các thương nghiệp trẻ nhưng lại rất khó vay là nợ không thế chấp (unsecured loan). Thông thường đây là những loại vay ngắn hạn cho cá nhân nào có tài sản nhưng ít nợ, có đầy đủ lưu lượng tiền mặt (cash flow) và ngân hàng thường đánh giá cá nhân người vay theo một tỉ số gọi là “nợ-so-vốn liến” (debt-to-equity ratio) càng thấp càng tốt. Nợ không thế chấp thường có thời hạn ít hơn một năm với lãi suất căn cứ theo cỡ của số tiền vay nhiều hay ít, tình trạng sức khỏe của người vay tốt hay xấu và loại kỹ nghệ hay nghiệp vụ mà người vay sẽ kinh doanh. Loại nợ dễ vay nhất là nợ thế chấp có thể đặt trên nhiều nền tảng khác nhau miễn là đem lại cho ngân hàng cho vay một mức bảo đảm an toàn không sợ bị mất, thí dụ như lấy hàng hóa tồn kho (inventory), trương mục chờ thâu (account receivables), hoặc nguyên liệu (raw material).

Chẳng bao giờ có ngân hàng nào cho một nghiệp vụ vay tới 100% mức nợ. Giới chức ngân hàng rất thận trọng – thực ra mọi nhân viên ngân hàng đều có tính cẩn trọng – họ thường đòi hỏi tân doanh gia muốn vay tiền phải bỏ ra ít nhất một nửa số vốn khởi sự đầu tiên và hầu hết các nơi cho vay đều ấn định người vay phải có ít nhất 20% vốn liếng có nghĩa là tổng số nợ không quá 80% toàn bộ tài sản của nghiệp chủ.

Như đã trình bày ở trên, các nơi cho vay đều rất sẵn lòng cung cấp tiền bạc cho những dự án thương mại có tài sản thế chấp mà họ có thể tóm thâu đem bán đi được một cách dễ dàng để thu hồi lại vốn trong trường hợp xét thấy cần thiết. Kinh nghiệm cho thấy các doanh nghiệp kỹ nghệ hay sản xuất đều rất dễ vay hơn là các nghiệp vụ bán lẻ và cung cấp dịch vụ.

Ngân hàng là một loại xí nghiệp kiếm tiền bằng cách đặt ra và duy trì trương mục vãng lai (checking accounts) cùng trương mục tiết kiệm (saving accounts) cho công chúng gửi tiền rồi lấy tiền đó cho vay hoặc cấp tín dụng, giao dịch chứng khoán với chính quyền và xí nghiệp tư nhân. Ngân hàng đầu tư bằng tiền của các khách hàng tín nhiệm mà gửi gấm đổi lại là cung cấp các giao dịch tiền bạc (banking) cho khách hàng. Mức độ đầu tư của ngân hàng đều có giới hạn theo luật định; ngân hàng được ấn định hoạt động chi phối dưới luật lệ liên bang và tiểu bang.

Tại Hoa Kỳ có các loại ngân hàng sau đây từ loại bị ít cho tới loại bị nhiều chi phối theo luật lệ. Đó là ngân hàng thương mại, ngân hàng tiết kiệm, và hiệp hội tiết kiệm và cho vay.

“Ngân hàng thương mại (commercial banks) là loại thông dụng và tương đối ít bị gò bó vào luật lệ so với các loại ngân hàng khác. Ngân hàng thương mại thường phải duy trì một số tiền mặt lớn để luôn luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền hàng ngày của khách hàng tránh không bị thiếu hụt khiến có thể đưa đến tình trạng mất tín nhiệm và gây khủng hoảng. Ngân hàng thương mại thông thường là xí nghiệp công ty (publicly held corporation) nói chung là nghiệp vụ có cổ phần (shares) do một số công chúng giữ chủ quyền; trái ngược hẳn với tiểu công ty (a close corporation) chỉ do một vài cá nhân bỏ vốn ra mà thôi.

“Ngân hàng tiết kiệm (savings banks) là một hình thái ngân hàng khác được thiết lập với mục đích chính yếu khuyến khích công chúng dành dụm tiền bạc. Để đạt được mục đích này các ngân hàng tiết kiệm thường cống hiến nhiều chương trình dành tiền theo thời hạn có lãi suất cao, có nghĩa là người gởi chỉ có thể rút tiền ra khi mãn định kỳ thì mới được hưởng lãi suất đó. Thời nay các ngân hàng loại này có phần phát triển rộng rãi. Những người muốn ký thác tiền nên lưu ý rằng ngân hàng tiết kiệm trả lãi suất cao hơn ngân hàng thương mại vì lý do ngân hàng tiết kiệm không phải lưu trữ một số lượng lớn tiền mặt dự trữ như ngân hàng thương mại. Ngân hàng tiết kiệm thường thành lập dưới hình thức hùn hạp của một số người ký thác (partnership of depositors) mà họ sẽ nhận được tiền chia (dividend) dưới hình thức tiền lãi (interest) trong trương mục của người ấy.

“Hiệp hội tiết kiệm và cho vay (saving and loan association) – Đây là một hình thức khác của ngân hàng, mặc dù trong những năm gần đây có nhiều vụ tai tiếng làm xôn xao dư luận vì những chuyện bê bối xảy ra nhưng hiệp hội tiết kiệm và cho vay là một loại ngân hàng bị ràng buộc nhiều nhất với đủ loại luật lệ gò bó. Ngân hàng loại này là một tổ chức bảo thủ – không những chỉ có mục đích khuyến khích công chúng tiết kiệm – mà còn cung cấp tài trợ cho vay tiền mua nhà và kinh doanh thương mại

Kỳ tới chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập đến vài loại cơ sở cho vay khác kể cả công lẫn tư. Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quí độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.

Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở địa chỉ 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, CA 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. Website: lylylaw.com.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT