Cải lương cũng có tuồng đường rừng… Mỹ quốc


Ngành Mai


Vào khoảng 1955-1956 ở Việt Nam chẳng có mấy người được biết nước Mỹ. Vậy mà cải lương lại có tuồng hát dựng lên bối cảnh nước Mỹ thời các bộ lạc da đỏ chiến đấu.


Những năm từ 1953 đến 1957 các rạp chiếu bóng ở đô thành Sài Gòn thường hay chiếu phim Mỹ, mà nhiều nhứt là phim có nội dung tình tiết, bối cảnh chiến tranh giữa người da trắng và các bộ lạc da đỏ. Nhiều người đã thắc mắc có phải soạn giả Lê Khanh đi coi hát bóng rồi “cóp” lại viết tuồng cải lương chăng?









“Dũng sĩ da đỏ” Bảo Quốc lúc còn bé, và thân phụ của cậu, nghệ sĩ Năm Nghĩa. (Hình: Bộ sưu tập của Ngành Mai)


Số là cuối năm 1954 sòng bạc Ðại Thế Giới bị đóng cửa, rạp Ðông Vũ Ðài nằm trong đó cũng phải đóng cửa luôn. Ðây là rạp hát cải lương mà đoàn Thanh Minh sống vững vàng nhờ số đông khán giả miền Lục Tỉnh. Nhiều ghe thuyền chở nông phẩm, trái cây, gạo lúa từ miền Tây lên đậu dọc theo Bến Hàm Tử. Các lái buôn trong lúc chờ đợi lên hàng, họ tập trung vô Ðại Thế Giới, sẵn đó vô rạp cải lương nghe Út Trà Ôn ca vọng cổ, ai cũng muốn ít nhứt một vài lần được xem thần tượng Út Trà Ôn bằng xương bằng thịt, chớ lâu nay chỉ nghe giọng ca qua dĩa hát Hoành Sơn. Do vậy mà gánh Thanh Minh lên hương ở thời gian này.


Sòng bạc Ðại Thế Giới đóng cửa, thương lái miền Tây tản mác, mất đi số khán giả hằng đêm ủng hộ, gánh Thanh Minh hoàn toàn kiệt quệ, về nằm tại rạp Thành Xương, hát được vài suất thì toan cho rã gánh. Nhưng bà Bầu Thơ tiếc rẻ sự nghiệp, mới vay đâu đó được sáu mươi ngàn đồng, hô hào tập tuồng mới, khai trương lại. Người được mời chấn chỉnh đoàn Thanh Minh là soạn giả Lê Khanh (từ gánh Phụng Hảo sang). Anh này đặt ra kế hoạch mới và đưa ra vở hát đầu tay để tập dượt là vở “Nhớ Rừng,” thuộc loại đường rừng… Mỹ quốc chiến đấu với các bộ lạc da đỏ.


Tranh cảnh thì vẫn dùng đồ cũ, chỉ duy có sắm phần y trang không là đã hết tiền rồi. Ban sơ thì đoàn này định tập xong ba vở rồi mới khai trương, nhưng chỉ mới có một vở của Lê Khanh là cạn túi rồi, chẳng còn vay mượn tiền ai được nữa hết.


Giữa khi bối rối ấy thì soạn giả Lê Khanh mới đề nghị bà Bầu Thơ thôi thì hát càn đi, một vở tuồng vẫn hát. Trước tình thế bất đắc dĩ đó, bà Bầu Thơ đành phải nghe lời Lê Khanh. Và rồi vở “Nhớ Rừng” được khai trương và hát luôn 17 đêm mà vẫn còn khách.


Ðến khoảng giữa năm 1965 do tình trạng giới nghiêm từ 11 giờ đêm, cho dù mở màn hát sớm để vãn hát trước 10 giờ rưỡi đêm, nhưng khán giả cũng không mạnh dạn đi coi hát, bởi cái nạn không có xe về.


Có ở các rạp hát vào giờ vãn hát lối 10 giờ 20 ban đêm, người ta mới biết rằng muốn kiếm xe tắc xi, xích lô máy hoặc xích lô đạp để về nhà là một chuyện… lên ruột. Không có xe về nhà thì sẽ bị kẹt vào giờ giới nghiêm, chắc chắn sẽ bị lôi thôi.


Chính cái điều khó kiếm xe về nhà vào giờ vãn hát, đã làm cho khán giả cải lương giảm sút rất nhiều, các đoàn hát chỉ thu 1 phần tư, hay 1 phần ba số thu lúc trước. Do thu kém, nghệ sĩ thường lãnh “lương thông cảm,” tức là lương cà phê, dưới số lương đờ mi.


Kéo dài tình trạng như thế mãi, giới bầu gánh cũng chịu không nổi, và do chịu không nổi kiểu ấy, bà giám đốc Nguyễn Thị Thơ của đoàn Thanh Minh-Thanh Nga liền thay đổi kế hoạch, không hát xuất tối từ 7g15 đến 10g15 nữa, mà hát từ 3 giờ 30 chiều đến 7 giờ 30 tối.


Lần đầu tiên một đoàn cải lương mở “kỷ nguyên” hát buổi chiều, và hát trở lại những tuồng cũ từng ăn khách. Trong số những tuồng được chọn, có vở hát “Nhớ Rừng” của soạn giả Lê Khanh. Sang qua thời này vai chánh do nghệ sĩ trẻ Bảo Quốc (17 tuổi) đóng vai dũng sĩ da đỏ Kha Lân, là vai mà nghệ sĩ Năm Nghĩa thủ diễn khi còn sinh tiền. Bảo Quốc là con của Năm Nghĩa và bà Bầu Thơ.


Như vậy khán giả cải lương bình dân lao động, họ đã biết Mỹ quốc từ khuya rồi. Chớ không phải đợi đến 1975 người tỵ nạn như chúng ta mới tới được nước Mỹ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT