Lời mở đầu: Khi nước Mỹ đón mừng cột mốc 250 năm thành lập, một sự thật lịch sử mang tính cốt lõi cần được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc: Vai trò mạnh mẽ – và thường bị xem nhẹ trong mắt không ít người Mỹ lẫn người Mỹ gốc Việt ngày nay – của Pháp trong Cuộc Cách Mạng Mỹ. Nhiều người vẫn lầm tưởng rằng sự khai sinh của Mỹ hoàn toàn đến từ nội lực của các bậc khai quốc công thần, mà quên mất rằng nếu không có sự giúp đỡ toàn diện về quân sự, tiền bạc và đặc biệt là nhân lực (xét theo nghĩa nợ xương máu) của Vương Quốc Pháp, nước Mỹ chưa chắc có thể giành độc lập khỏi tay Đế Quốc Anh.
PARIS, Pháp (NV) – Vào ngày 4 Tháng Bảy năm 1776, 13 thuộc địa Anh tại Bắc Mỹ ly khai khỏi Vương Triều Anh và tuyên bố độc lập, một hành động nổi dậy có ý nghĩa trọng đại làm thay đổi tiến trình lịch sử. Hơn một năm sau Bản Tuyên Ngôn Độc Lập, cuộc chiến giành độc lập của người dân thuộc địa Bắc Mỹ vẫn diễn ra ác liệt nhưng vô cùng bấp bênh.
Cán cân quyền lực thực tế trên chiến trường chỉ thực sự xoay chuyển sau Trận Chiến Saratoga vào Tháng Mười, 1777 tại tiểu bang New York. Chiến thắng của quân đội Mỹ trước quân đội Anh tại đây đã chứng minh cho Vua Louis XVI thấy rằng các lực lượng nổi dậy có khả năng chiến thắng.

Trước cột mốc đó, vị vua của nước Pháp âm thầm hỗ trợ các lực lượng nổi dậy Mỹ suốt một năm rưỡi. Vũ khí, đạn dược và tài chính được bí mật chuyển đến các thuộc địa nhưng cung điện Versailles vẫn ngần ngại đối đầu công khai với nước Anh.
Chiến thắng tại Saratoga xóa tan mọi sự dè dặt còn lại.
Vào ngày 17 Tháng Mười Hai, 1777, Vua Louis XVI chính thức công nhận nền độc lập của Mỹ, đưa Pháp trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cấp tư cách ngoại giao cho nước cộng hòa non trẻ này, lời nhắc nhở trong bài viết “250 năm độc lập của Hoa Kỳ: Pháp đã giúp xoay chuyển cục diện Chiến tranh Cách mạng như thế nào” đăng trên France 24, đài truyền hình quốc gia Pháp, ngày Thứ Bảy, 4 Tháng Bảy.
Liên minh xương máu và tiền bạc tại Paris
Việc công nhận ngoại giao chỉ là bước mở đầu với sự kiện vào ngày 6 Tháng Hai, 1778, nhà khai quốc công thần Mỹ Benjamin Franklin và ngoại trưởng Pháp là Bá Tước Vergennes ký kết hai hiệp định lịch sử tại cung điện Versailles, một về thương mại và một về quân sự. Từ thời điểm này, hai quốc gia gắn chặt định mệnh vào nhau khi cam kết không ký kết bất kỳ thỏa thuận hòa bình riêng rẽ nào với nước Anh. Cuộc chiến không còn là một cuộc nổi dậy thuộc địa đơn thuần mà biến thành một cuộc xung đột quốc tế quy tụ những cường quốc lớn nhất thời bấy giờ.
Tại Paris, ông Benjamin Franklin nhanh chóng trở thành gương mặt đại diện cho Cuộc Cách Mạng Mỹ, chinh phục hoàn toàn giới quý tộc Pháp. Ngược lại, ông John Adams, một khai quốc công thần khác của Mỹ, lại gặp cú sốc văn hóa và không thể hòa nhập với triều đình Versailles xa hoa do tính cách nghiêm khắc và không biết tiếng Pháp.
Quốc Hội Mỹ sau đó phải đưa ông Adams đến Hòa Lan để tìm kiếm các khoản vay thiết yếu khác.
Còn trên chiến trường, liên minh thực sự được cứu rỗi nhờ một quý tộc trẻ tuổi người Pháp, tên là Gilbert du Motier, tức Hầu Tước Lafayette.
Đến Mỹ vào Tháng Sáu, 1777, với bầu nhiệt huyết phi thường, Hầu Tước Lafayette xóa bỏ định kiến của người dân thuộc địa đối với người Pháp (vốn trước đó thường bị coi là những người Công giáo theo tư tưởng “Giáo Hoàng Trị”).
Được Tướng George Washington dìu dắt, vị sĩ quan trẻ tuổi này đã trở thành cầu nối xương máu giữa hai quốc gia và được vinh danh bằng biệt danh: “Anh Hùng Của Hai Thế Giới.”
Vào mùa xuân năm 1779, Hầu Tước Lafayette trở lại Versailles thuyết phục Vua Louis XVI gia tăng cam kết quân sự. Kết quả là gần 6,000 binh sĩ Pháp thuộc lực lượng viễn chinh dưới sự chỉ huy của Bá Tước Rochambeau đổ bộ xuống Rhode Island vào mùa hè năm 1780, mang lại cho quân đội Mỹ một lực lượng yểm trợ dài hạn bằng xương bằng thịt.
Trận Yorktown: Đỉnh cao của sự xoay chuyển cục diện
Năm 1781, sự phối hợp chiến lược giữa Pháp và Mỹ đạt đến đỉnh điểm. Bá Tước Rochambeau thuyết phục Tướng George Washington từ bỏ kế hoạch tấn công New York để tập trung toàn lực xuống phía nam, nơi quân đội của tướng Anh Charles Cornwallis đang cố thủ tại Yorktown, Virginia.
Cùng lúc đó, Đô Đốc François Joseph Paul de Grasse dẫn đầu hạm đội hải quân Pháp tiến về phía bắc chặn đứng Vịnh Chesapeake, đánh bại Hải Quân Hoàng Gia Anh trong một trận chiến bất ngờ.
Sự xuất hiện của hạm đội Pháp đã cắt đứt hoàn toàn đường tiếp tế và đường lui bằng đường biển của quân Anh. Bị bao vây cô lập giữa hạm đội của Đô Đốc de Grasse và các lực lượng trên bộ của Tướng Washington cùng Bá Tước Rochambeau, số phận của quân Anh tại Yorktown bị định đoạt. Sau ba tuần bị vây hãm, Tướng Cornwallis buộc phải đầu hàng vào ngày 19 Tháng Mười, 1781.
Đối với các nhà lịch sử học chuyên nghiệp, nước Mỹ thực sự được sinh ra từ chính trận bao vây Yorktown này. Và đây cũng là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy nếu không có sự phong tỏa hải quân vững chắc của Đô Đốc de Grasse, quân đội Anh chắc chắn nhận được viện binh.
Nếu không có hàng ngàn binh sĩ thiện chiến bằng xương bằng thịt do Vua Louis XVI gửi sang, quân đội của Washington không thể nào duy trì một trận địa vây hãm quy mô lớn đến như vậy.
Đó không chỉ là tiền bạc, đó là nợ máu với sinh mạng của hàng ngàn binh sĩ Pháp ngã xuống trên đất Mỹ để đổi lấy tự do cho một quốc gia xa lạ.
Cái giá đắt và kết cục trớ trêu của một vương triều
Sau trận Yorktown, nước Anh hiểu rằng họ không còn cơ hội tái chiếm các thuộc địa cũ. Đoạn kết của Cuộc Cách Mạng Mỹ được viết bằng Hiệp Định Paris, ký kết vào ngày 3 Tháng Chín, 1783, chính thức buộc Vương Quốc Anh phải công nhận nền độc lập của Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, chiến thắng lịch sử này lại mang đến một cái giá quá đắt và gây tác dụng ngược thảm khốc đối với chính vương triều của Vua Louis XVI.
Triều đình Pháp chi hơn 1 tỷ Quan Pháp để tài trợ toàn bộ cho cuộc chiến và các chuyến viếng thăm quân sự này. Khoản nợ khổng lồ ấy đã bóp nghẹt nền kinh tế Pháp, vốn đã kiệt quệ từ sau Cuộc Chiến Bảy Năm. Trong khi đó, những vùng đất hay quyền lợi thương mại mà Pháp giành lại được từ tay Anh sau hiệp định là vô cùng ít ỏi.
Điều trớ trêu hơn cả là về mặt tư tưởng. Bằng việc hào phóng giúp các nhà cách mạng Mỹ dựng lên một nền cộng hòa, Vua Louis XVI vô tình gieo mầm cho sự sụp đổ của chính triều đại của mình.
Các lý tưởng về tự do, chủ quyền nhân dân từ Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Mỹ theo chân các giới chức sĩ quan Pháp, đặc biệt là Hầu Tước Lafayette, trở về nước. Những trải nghiệm chính trị thực tế về một “Nền Cộng Hòa” đã làm bùng lên các cuộc tranh luận gay gắt trong lòng xã hội Pháp.
Sáu năm sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, Cuộc Cách Mạng Pháp bùng nổ vào năm 1789.
Bằng việc dùng tiền bạc, vũ khí và cả mạng sống của thần dân để giúp một nền cộng hòa tự do khai sinh ở bờ bên kia Đại Tây Dương, vị vua của nước Pháp vô tình đẩy nhanh sự kết thúc của chính chế độ quân chủ của mình.
Lịch sử nước Mỹ đã được dệt nên từ những đóng góp to lớn từ người Pháp, một sự thật mà dòng chảy thời gian không được phép làm phai mờ, dù động cơ của điện Versaille có thể chỉ là giúp Mỹ đánh để làm suy yếu vương triều Anh, kẻ thù truyền kiếp của họ. (MPL)






























































































































