Ngành dược Mỹ ngày càng lệ thuộc Trung Quốc

WASHINGTON, DC (NV) – Chính quyền Tổng Thống Donald Trump đang cân nhắc cho phép các hãng dược Mỹ tiếp tục phần lớn hợp đồng mua bản quyền thuốc mới từ Trung Quốc, cho thấy một thực tế khó xử đó là giữa lúc Washington ngày càng tìm cách hạn chế phụ thuộc Trung Quốc về chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, xe điện và nhiều công nghệ chiến lược, ngành dược Mỹ lại ngày càng cần đến những loại thuốc được phát triển tại Trung Quốc.

Hãng tin Reuters hôm Thứ Sáu, 18 Tháng Chín, dẫn ba nguồn thạo tin cho biết Bộ Tài Chính đang soạn quy định cho phép phần lớn các thương vụ cấp phép dược phẩm tiếp tục, ngoại trừ những lĩnh vực liên quan đến mầm bệnh hoặc công nghệ sinh học có thể bị biến thành vũ khí. Quy định chưa hoàn tất và Tổng Thống Trump vẫn có thể can thiệp.

Ông Albert Bourla, tổng giám đốc Pfizer. (Hình: Fabrice COFFRINI / AFP via Getty Images)

Hướng đi này mềm hơn đáng kể so với chính sách Washington đang áp dụng đối với nhiều ngành công nghệ Trung Quốc. Lý do rất thực tế là các đại công ty dược phẩm Mỹ không muốn tự cắt mình khỏi một trong những nguồn thuốc mới phát triển nhanh nhất thế giới.

Pfizer và một số hãng dược lớn vận động Bộ Trưởng Tài Chính Scott Bessent và các viên chức chính quyền không áp đặt hạn chế quá rộng. Ông Albert Bourla, tổng giám đốc Pfizer, lập luận rằng việc một công ty Mỹ mua bản quyền một loại thuốc được phát triển tại Trung Quốc không nên tự động bị xem là nguy cơ an ninh quốc gia.

Các con số cho thấy sự thay đổi rất nhanh. Trong năm 2025, gần một nửa số thuốc được các hãng Mỹ mua bản quyền từ ngoại quốc để đưa vào chương trình phát triển của họ đến từ Trung Quốc. Bristol Myers Squibb đã ký thỏa thuận với Jiangsu Hengrui Pharma có thể trị giá tới $15.2 tỷ, trong khi Pfizer ký hợp tác với Innovent Biologics trị giá tới $10.5 tỷ, gồm 12 chương trình điều trị ung thư. Tổng giá trị các thỏa thuận cấp phép quốc tế liên quan đến biotech Trung Quốc trong năm ngoái vào khoảng $115 tỷ, theo GlobalData.

Nhưng điều có lợi cho Big Pharma lại đang trở thành mối lo của nhiều công ty biotech Mỹ nhỏ hơn.

Các công ty này thường bỏ nhiều năm và vốn đầu tư để nghiên cứu một loại thuốc, sau đó bán bản quyền cho Pfizer, Merck hoặc những tập đoàn lớn để lấy tiền tiếp tục phát triển. Nay họ phải cạnh tranh với hàng trăm công ty Trung Quốc có khả năng thử nghiệm nhanh hơn, chi phí thấp hơn và tiếp cận một thị trường bệnh nhân rất lớn.

Ông Jason Kelly, tổng giám đốc Ginkgo Bioworks, cảnh báo về nguy cơ Mỹ rơi vào tình trạng “lệ thuộc chiến lược vào Trung Quốc về thuốc đổi mới.” Dân Biểu John Moolenaar (Cộng Hòa-Michigan), và Dân Biểu Debbie Dingell (Dân Chủ-Michigan), cũng muốn Bộ Tài Chính kiểm soát chặt hơn đầu tư, liên doanh và hợp đồng biotech với Trung Quốc. Ông Moolenaar cho rằng dòng vốn Mỹ đang giúp các công ty Trung Quốc tiến lên những tầng cao hơn trong chuỗi giá trị dược phẩm.

Đây là mâu thuẫn khó giải quyết. Nếu Washington ngăn Big Pharma mua thuốc Trung Quốc, các hãng Mỹ có thể mất những sản phẩm đầy triển vọng và bệnh nhân có thể chậm tiếp cận phương pháp điều trị mới. Nhưng nếu tiếp tục chi hàng chục tỷ đô la mua bản quyền, chính dòng tiền đó lại giúp ngành biotech Trung Quốc có thêm vốn để nghiên cứu và cạnh tranh với Mỹ.

Tình thế này cũng cho thấy giới hạn thực tế của chính sách cứng rắn với Trung Quốc.

Sự lệ thuộc kinh tế hiện nay không hình thành trong một vài năm hay dưới một tổng thống. Trong nhiều thập niên, các công ty Mỹ và phương Tây đưa sản xuất, vốn, máy móc, kiến thức quản trị và công nghệ vào Trung Quốc để tận dụng chi phí thấp và tiếp cận một thị trường khổng lồ.

Văn Phòng Kiểm Toán và Giám Sát Chính Phủ Mỹ (GAO), cho biết thương mại và đầu tư giữa Mỹ và Trung Quốc “tăng rất mạnh” trong nhiều thập niên vừa qua. Năm 2022, đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Trung Quốc đạt $126 tỷ. GAO đồng thời cảnh báo về các hành vi thương mại không công bằng, đánh cắp công nghệ nhạy cảm và rủi ro từ sự phụ thuộc quá mức vào chuỗi cung ứng Trung Quốc.

Tuy nhiên, sẽ quá đơn giản nếu cho rằng Trung Quốc trở thành cường quốc biotech chỉ nhờ tiếp nhận công nghệ phương Tây.

Bắc Kinh từ lâu đã đưa biotechnology vào chiến lược phát triển quốc gia, cải tổ thủ tục phê chuẩn thuốc, tăng đầu tư nghiên cứu, phát triển thị trường vốn và củng cố hệ thống bằng sáng chế. Theo Center for Strategic and International Studies, CSIS, tỷ lệ thuốc của Trung Quốc trong hệ thống phát triển dược phẩm đổi mới toàn cầu tăng từ 4.1% năm 2015 lên 13.9% năm 2020. Đến năm 2023, giá trị các thương vụ bán bản quyền dược phẩm của Trung Quốc ra nước ngoài đã vượt các thương vụ mua vào.

Dòng chảy công nghệ vì thế đang từng bước đổi chiều. Trước đây, phần lớn vốn và công nghệ đi từ Mỹ, Europe và Japan vào Trung Quốc. Ngày nay, Pfizer, Bristol Myers Squibb và các hãng phương Tây lại bỏ hàng tỷ đô la mua thuốc và công nghệ do các công ty Trung Quốc phát triển. CSIS ghi nhận chỉ trong ba tháng đầu năm 2025, Trung Quốc chiếm 32% giá trị các thương vụ biotech bán bản quyền ra toàn cầu.

Đó là giới hạn của ý tưởng “tách khỏi Trung Quốc.” Thuế quan, hạn chế chip hay kiểm soát đầu tư có thể thay đổi một phần quan hệ kinh tế, nhưng rất khó xóa bỏ trong vài năm những chuỗi cung ứng và mạng lưới nghiên cứu được xây dựng suốt nhiều thập niên.

Đối với dược phẩm, lựa chọn còn khó hơn: Nếu một phương pháp điều trị ung thư đầy triển vọng được phát triển tại Thượng Hải, Washington phải cân nhắc giữa giảm lệ thuộc chiến lược vào Trung Quốc và bảo đảm bệnh nhân Mỹ được tiếp cận thuốc mới.

Chính cuộc tranh luận giữa Big Pharma và các công ty biotech nhỏ cho thấy vấn đề vượt xa khẩu hiệu chính trị. Washington muốn hạn chế sức mạnh công nghệ của Bắc Kinh, nhưng ngành dược Mỹ đã gắn với hệ thống nghiên cứu Trung Quốc đến mức đóng cửa hoàn toàn có thể gây thiệt hại cho chính doanh nghiệp và bệnh nhân Mỹ. (MPL)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT