Tiếng Việt Dấu Yêu (Kỳ 284)

Tiệc Tất Niên 2016 của Liên Ðoàn Hướng Ðạo Lam Sơn và gia đình

 



Tâm tình Thầy Cô

Tiếng Việt dùng trong giới trẻ hải ngoại (Phần 2)

Trần C. Trí (University of California, Irvine)

LTS: Phần 1 (đăng trong số báo trước) nói về các nguyên nhân chính, như ngôn ngữ, thiếu cơ hội thực hành sử dụng tiếng Việt; và yếu tố tâm lý thứ nhất là các em chỉ sử dụng tiếng Việt đối với những ai không nói tiếng Anh, như ông bà nội ngoại, hay để gọi thức ăn, mua bán lặt vặt ở khu Little Saigon.

Một yếu tố tâm lý khác đến từ cha mẹ hay thầy cô. Ðiều này thường xảy ra mà nhiều khi chúng ta là bậc phụ huynh hay nhà giáo dục có khi không để ý đến. Khi các em nói tiếng Việt với chúng ta, lỡ phát âm sai một chữ, hay dùng một câu không chỉnh, chúng ta vô tình phì cười hay sửa các em bằng một thái độ thiếu xây dựng. Thái độ này có thể gây tổn thương tâm lý nặng nề cho các em. Những lần tới, hoặc là các em không muốn nói tiếng Việt với chúng ta nữa, hoặc là các em nói mà phải dè dặt, đâm ra khó mà nói được lưu loát.

Trong giới học sinh, sinh viên ở môi trường học đường Mỹ, nơi mà tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chính, việc nói tiếng Việt với nhau càng là một nan đề. Nếu chúng ta chịu khó để ý khi có dịp ở trong môi trường này, chúng ta có thể thấy số học sinh, sinh viên người gốc Mỹ La-tinh dùng tiếng Tây Ban Nha với nhau tự nhiên và nhiều hơn là học sinh, sinh viên gốc Việt nói tiếng Việt với nhau. Ðiều này đi đôi với một nguyên nhân lịch sử. Vài chục năm về trước, người gốc Mỹ La-tinh, vì muốn hội nhập vào cuộc sống Mỹ nhanh hơn, cũng đã trải qua những gì người Việt đang trải qua, nghĩa là đã từng tránh nói tiếng mẹ đẻ là Tây Ban Nha, để chỉ dùng tiếng Anh trong mọi nơi, mọi lúc. Ngày nay, cộng đồng người Mỹ La-tinh đang lớn mạnh không ngừng về mọi phương diện, là một lực lượng mà không ai có thể phủ nhận có nhiều tiềm năng về kinh tế, chính trị, văn hóa, v.v… Vì thế, người gốc Mỹ La-tinh dần dần lấy lại được niềm tự tin, bây giờ đã có thể dùng tiếng Tây Ban Nha nơi công cộng một cách thoải mái. Tiếng Tây Ban Nha giờ đây đã là biểu hiện của sự phát triển, của những cánh cửa dẫn đến thành công. Cả người Mỹ cũng đua nhau đi học thứ tiếng của họ, bảo sao họ không cảm thấy tự hào.

Tiếng Việt thì chưa được như vậy, dù tương lai của nó cũng đang dần dần mở rộng. Càng ngày càng có nhiều trường trung học và đại học ở Hoa Kỳ có chương trình dạy tiếng Việt. Cộng đồng Việt đang lớn mạnh cũng đang có một tiếng nói đáng kể về mặt chính trị. Vì thế mà một số ít chính trị gia đã chịu khó học nói bập bẹ vài câu chào hỏi bằng tiếng Việt để lấy lòng cử tri Việt. Tuy vậy, cũng còn lâu lắm tiếng Việt mới có bắt kịp được tiếng Tây Ban Nha về mặt vai vế ở xứ này. Chừng nào chúng ta còn chưa đến giai đoạn đó, chừng ấy chúng ta, nói chung, vẫn còn dùng tiếng Việt nơi công cộng với ít nhiều mặc cảm.

Nhiều lần, muốn tìm hiểu tâm tư của các em sinh viên gốc Việt, chúng tôi có hỏi vì sao các em không dùng tiếng Việt với các bạn cùng lớp. Có em trả lời: “Không hiểu sao khi đi ra ngoài mà nghe hai người nói tiếng Việt với nhau, em thấy tiếng Việt họ nói nghe ‘rẻ tiền’ hay ‘nhà quê’ quá, thầy ạ! Thầy nghĩ sao về điều này?” Tôi trả lời: “Thầy vừa đồng ý với em, vừa không đồng ý với em. Bất cứ thứ tiếng nào trên thế giới, không riêng gì tiếng Việt, cũng có thể được nói ra bằng một cách ‘rẻ tiền’ hay ‘sang cả’ hết! Ðó chỉ là do mình nói thứ tiếng đó như thế nào mà thôi.”

Cô con gái tuổi mới lớn của tôi cũng có nhận xét tương tự như vậy, và tôi cũng giải thích như trên. Một hôm, cháu đi học về và bảo tôi: “Con thấy bố nói đúng. Tiếng Việt cũng có thể nghe ‘sang’ được. Hôm nay con đi gần hai ông cụ rất lịch sự đang nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Hai ông nói chậm rãi, từ tốn, không ồn ào. Con nghe thấy rất ‘sang’!” Tôi cười, đáp lời cháu: “Con thấy chưa? Chỉ cần ăn nói từ tốn, không ồn ào, dùng những chữ đàng hoàng, không dùng tiếng lóng, là bất cứ thứ tiếng nào cũng nghe ‘sang’ được cả!”

Như vậy thì chúng ta phải làm gì để thế hệ con em của chúng ta ở Hoa Kỳ và các nước khác có thể dùng tiếng Việt với nhau đây? Không biết tôi có bi quan không mà cứ tưởng tượng đến khoảng hai mươi năm nữa, ở hải ngoại này, các sách báo, băng nhạc, băng hình bằng tiếng Việt có cho không cũng không ai lấy; các đài phát thanh hay truyền hình sẽ phải tự động đóng cửa vì sẽ chẳng có ai nghe hay xem. Tôi cứ tưởng tượng khi thế hệ thứ nhất của chúng ta tàn rụi đi rồi, con cháu của chúng ta sẽ không còn ai “canh chừng” xem chúng có nói tiếng Việt với nhau hay không, thì tội gì chúng phải nói tiếng Việt với nhau cơ chứ? Tôi có hỏi thử vài em sinh viên xem các em ấy có muốn con của mình sau này nói tiếng Việt hay không. Hầu hết các em đều nói là có. Tôi cười và hỏi vặn lại: “Chính các em còn không nói tiếng Việt thì lấy đâu mà dạy lại cho con cháu các em?” Chúng chỉ biết cười trừ.

Tất cả những sinh hoạt để gìn giữ tiếng Việt và văn hóa Việt ở hải ngoại ngày nay dường như chú trọng nhiều hơn về mặt dạy dỗ, tranh tài, mà lơ là đi mặt thực hành và tâm lý của nó. Tôi đã từng nghe nhiều em học sinh nhỏ xuất sắc đi dự thi chương trình đố vui bằng tiếng Việt nói chuyện và đùa giỡn với nhau bằng tiếng Anh, trước và sau cuộc thi! Ðối với hầu hết các em này, tiếng Việt chỉ là thứ tiếng để học chứ không phải để hành, chỉ là thứ tiếng dùng để thi chứ không phải để nói. Khi các em trình diễn văn nghệ, múa hát bằng tiếng Việt, dù đó đã là một điểm son, cũng mới chỉ dừng lại ở việc thuộc lòng tiếng hát, lời ca một cách thụ động, chứ chưa phải là trình độ sử dụng tiếng Việt một cách chủ động và sáng tạo. Muốn các em có nhu cầu nói tiếng Việt, trước hết phải giúp các em tìm đến sự tự nhiên, thoát khỏi những ràng buộc, những mặc cảm. Có rất nhiều hội sinh viên người Việt trong các trường trung học và đại học ở Mỹ, nhưng khi các em hội họp với nhau, các em lại dùng tiếng Anh! Chính những chỗ ấy là những chỗ chúng ta cần giúp các em “trở về cội nguồn ngôn ngữ.” Những câu lạc bộ học sinh, sinh viên gốc Việt cần có những người dìu dắt các em, trước hết là làm gương cho các em. Chúng ta có thể tổ chức những buổi nói chuyện, mời những diễn giả trong cộng đồng đến nói với em về nhiều đề tài thiết thực và dùng một thứ tiếng Việt đơn giản, dễ hiểu cho các em tiếp nhận. Dần dần, chúng ta có thể giúp các em tự trở thành những diễn giả dùng tiếng Việt và thảo luận với nhau cũng bằng tiếng Việt. Trong những sinh hoạt khác như tiệc tùng, văn nghệ, công việc thiện nguyện, v.v… chúng ta tìm mọi cách để “Việt hóa” từng chi tiết nhỏ như thông báo, giấy mời, các mẫu đơn, chương trình, biểu ngữ, v.v… nhất nhất tất cả đều bằng tiếng Việt. Làm được như vậy, dần dần các em mới nhận thức được tiếng Việt quả là một thứ tiếng sống động – một sinh ngữ thực thụ – đang được dùng trong mọi sinh hoạt thường ngày của các em. Ðây là một tiến trình lâu dài, đòi hỏi thời gian, công sức và lòng kiên nhẫn.

Trong bài viết ngắn ngủi này, chúng tôi chỉ làm một công việc nhỏ bé – và chưa đầy đủ – là thử tìm ra một số nguyên nhân về ngôn ngữ và tâm lý của hiện tượng các em gốc Việt không dùng tiếng Việt với nhau trong hầu hết mọi sinh hoạt ngoài gia đình, đồng thời tạm đề nghị vài phương pháp để cải thiện tình trạng này. Mỗi người có tâm huyết về tiếng mẹ đẻ và văn hóa nước nhà trong chúng ta – cố nhiên – sẽ phải tìm ra nhiều cách thức cụ thể để áp dụng vào việc giúp thế hệ con em của chúng ta tiếp tục gìn giữ và trao truyền ngọn lửa văn hóa cho những đời sau.

––––

Ði dạy lại

Cành Hồng

Nghỉ ba tuần, hôm nay được gặp lại các em tôi rất vui. Dù trời vẫn mưa và lạnh, nhưng tôi vẫn rời nhà sớm để không bị trễ. Dù mưa rất lớn, nhưng tôi không bị kẹt xe và đến trường sớm nửa tiếng; Tuy thế, tôi không phải là người đến sớm nhất, trước lớp tôi đã có 4 em chờ cửa mở, trên tay mỗi em một cái iPhone đang hoạt động.

Tôi ghé văn phòng lấy chìa khóa mở cửa, trở lại lớp, các em vẫn giữ nguyên tư thế cũ và thêm một em trong hàng, vẫn mỗi em một iPhone trên tay.

Tôi mở cửa lớp, các em chào tôi và bước vào lớp, mắt vẫn dán vào chiếc iPhone, tôi vội nhắc nhở các em cẩn thận vì sợ các em vấp té.

Tôi không biết các em đang làm gì, chơi gì mà say mê đến thế. Tôi ngồi chờ chuông reng, nhưng các em không chờ, các em vẫn cắm cúi trên màn hình be bé.

Các em đã đông đủ, chuông cũng đã reng, tôi yêu cầu các em cất iPhone để bắt đầu giờ học. Các em nhìn tôi, bắt đắc dĩ tắt máy và cất vào ngăn tủ. Lớp học tôi bắt đầu phần ôn tập sau 3 tuần nghỉ lễ.

Tôi không biết phụ huynh mua iPhone thưởng cho các em hay các em mua bằng tiền để dành của mình ? Các em có thật sự cần một smart phone không? Các em có được hướng dẫn những chương trình nào nên dùng, không nên dùng không? vì iPhone là một máy computer tối tân.

Hy vọng các em của tôi đều ngoan và giỏi.



Em Viết Văn Việt

Những bài viết của học sinh các trường Việt ngữ

Nhằm tạo một diễn đàn cho các em tập viết tiếng Việt, Ban Biên Tập trang Tiếng Việt Dấu Yêu kêu gọi quý phụ huynh và quý thầy cô khuyến khích các em viết văn, diễn tả bằng tiếng Việt những cảm nghĩ và ước vọng trong đời sống của các em. Ước mong nơi đây một sân chơi được mở ra và khu vườn văn hóa Việt sẽ được quý phụ huynh và quý thầy cô góp tay vun trồng, khuyến khích.

Trong các bài nhận được và chọn để đăng, chúng tôi cố ý giữ nguyên văn những gì các em viết. Vì thế, khi đọc đến những ngôn từ, lỗi chính tả và sai văn phạm, chúng tôi mong được phụ huynh và thầy cô chia sẻ và sửa chữa cho các em tại nhà hay trong lớp học.

Tất cả các bài viết dưới dạng MSWord, font Unicode; và hình ảnh dạng .jpg, xin gởi về địa chỉ email: [email protected] (xin đừng gởi dạng .pdf vì không tiện cho việc layout).

Trân trọng cảm ơn quý vị.

Nguyễn Việt Linh

Tập nấu ăn
Sarah Tăng, lớp 5, TTVH Hồng Bàng

Kim xin mẹ dạy nấu ăn. Mẹ nói Kim còn nhỏ, chưa có thể nấu các món ăn khó. Vì thế, mẹ dạy Kim hấp bắp. Bỏ bắp vào nồi hấp, đậy nắp lại và để lửa vừa vừa, khi bắp mềm là đã chín. Kim cảm thấy vui khi ăn trái bắp mềm do tay kim nấu lấy.

Bé khoe quà
Sarah Tăng, lớp 5, TTVH Hồng Bàng

Bà nội đi xa về, cho bé gói quà to. Vui quá, bé chỉ ăn qua loa rồi mở quà ra khoe mẹ: “Bà nội cho bé quà nè mẹ.” mẹ nói: “Bé hư quá!” Thế là hai khóe mắt bé đỏ hoe. Bà xoa má bé vỗ về: “Mẹ nói thế thôi, sao bé dễ nhè thế.”

Ði học lại
Tina Châu, Lớp Tám

Em đi chơi Las Vegas hôm qua, và hôm nay em đi học lại.

Em còn muốn được nghỉ thêm nhưng má bắt phải thức. em phải ngồi dậy nhưng trời đang mưa, chắc lạnh lắm. Em lại nằm xuống, nhưng em trai em đã lao vào phòng lôi em xuống giường, Em sợ sẽ bị trễ học nếu em không thức.

Em bị ướt, lại đói bụng, lại lạnh và ngồi trong lớp không vui chút nào. Em cố gắng ngồi im trong lớp nhưng không muốn học.

Giờ chơi em hết buồn, ra giỡn với bạn, em hết buồn nhưng mà trời vẫn mưa và lạnh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT