Ðạo Mormon, một bất lợi cho Thống Ðốc Mitt Romney?

 


Việt Nguyên


 


LTS: Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.


***


Ðại hội Ðảng Cộng Hòa và Dân Chủ đã kết thúc, con đường đi đến tòa Bạch Ốc của hai ứng cử viên tổng thống Barack Obama và Mitt Romney vẫn còn trong tình trạng bất phân thắng bại.


Một điều chắc chắn là đến tháng 11 năm nay vào ngày bầu cử, cử tri Hoa Kỳ đã có sẵn thiên kiến. Phụ nữ, đồng tình luyến ái và dân thiểu số nghiêng về TT Barack Obama. Dân da trắng, cựu chiến binh, giới tiểu thương nghiêng về cựu Thống Ðốc Mitt Romney.


Tình trạng thất nghiệp vẫn trên mức 8%, chương trình kinh tế của T.T. Obama trong vòng 4 năm qua không tạo được công ăn việc làm nhưng chương trình kinh tế của ông Romney cũng chưa thuyết phục được dân Mỹ. Các chương trình xã hội của TT Obama đã làm mất phiếu giới cử tri Công Giáo nhưng đạo Mormon của Thống Ðốc Mitt Romney đã khiến cử tri Thiên Chúa Giáo ngần ngại.


 


Joseph Smith sáng lập đạo Mormon


 


Mormon là một đạo Tin Lành trong 23,000 giáo phái Tin Lành ở Bắc Mỹ. Người sáng lập đạo là ông Joseph Smith (sanh ngày 23 tháng 12 năm 1805). Ông có cuộc đời ly kỳ. Tháng 3 năm 1826, anh chàng Joseph Smith 21 tuổi bị tòa án thành phố Bain Brigdge, New York kết án tù về tội làm rối loạn trật tự công cộng, mạo danh, lừa đảo, hay dòm trộm đàn bà qua cửa kính, lường gạt mọi người qua việc tổ chức đi tìm vàng, đào đất để tìm cổ vật trong đó có những đĩa cổ có sức mạnh thần bí.


Trong vòng 4 năm sau, ông Joseph Smith nổi tiếng, 18 tháng sau ngày bị kết án ông tuyên bố tìm thấy kinh Mormon (nghĩa là more good, tốt hơn) nhờ thiên thần Moroni hiện ra hướng dẫn ông đào từ những gò đất của dân da đỏ (thiên thần của Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo là Gabriel).


Kinh sách Mormon được in trên những đĩa vàng giải thích ngọn nguồn Phúc Âm từ dân da đỏ và ông cũng cho biết tìm thấy hai đĩa bằng đá đi đôi với nhau, Thummim và Urim, được đề cập trong kinh Cựu Ước. Các kinh này là cổ vật hiếm có của 10 bộ lạc Do Thái mất tích từ thế kỷ thứ 8. Kinh này sau đó được ông Joseph Smith dịch ra tiếng Anh. Ông Smith cũng giống như những người da trắng Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha tin rằng 10 bộ lạc Do Thái mất tích đã đi cùng khắp thế giới, đi đến Anh, Phi Châu, có mặt nhiều nhất ở Ấn Ðộ và Tân thế giới.


Hồi thế kỷ thứ 15, nhà thám hiểm Bồ Ðào Nha Vasco Da Gamma khi đến Ấn Ðộ đã lầm tưởng dân Ấn theo đạo Thiên Chúa, những người Do Thái mất tích, vì họ cũng làm lễ thánh, vẩy nước, ông nghe thần Krishna thành Christ (đồng âm) và nhìn tượng nữ thần Devaki lại nghĩ là tượng Ðức Mẹ đồng trinh Maria.


Những người Tây Ban Nha khi đến vùng Nam Mỹ đã tưởng dân Aztecs là những người trong 10 bộ lạc Do Thái mất tích vì họ tế lễ vẩy nước thánh và xây đền thờ.


Năm 720 trước Thiên Chúa, vương quốc Do Thái bị đế quốc Neo-Assyria (Iraq bây giờ) phá hủy. Ðầu tiên, Vua Do Thái Menahem phải triều cống vua Tiglath-Piloser III (vua Pul trong kinh thánh). Năm 733 trước Thiên Chúa, vua Pul đem quân đánh Do Thái thời vua Pekh. Theo Eric H. Cline, giáo sư khảo cổ đại học Washington, 10 bộ lạc Do Thái đã bị đuổi ra khỏi Do Thái. Dân Do Thái phần thì lưu vong, phần còn lại phải lấy quân chiếm đóng.


Vua Shamanneserv chiếm thủ đô Samarian đuổi dân Do Thái, đưa dân từ Babylon, Cathah, Hamth và Avoah vào thủ đô Samaria định cư. Kinh thánh không ghi lại số dân Do Thái bị đuổi. Sách sử Tiglath Pileser cho biết trừ thủ đô còn tất cả thành phố vùng bắc Do Thái bị chiếm và nhập vào đế quốc Neo Assyria đem theo 13,520 dân Do Thái về nước. Sách không cho biết địa điểm dân Do Thái tái định cư. Ðến thời vua Sargon II (năm 722 BC), đế quốc Neo-Assyria chiếm thủ đô Samaria bắt 27,280 dân Do Thái đưa về Assyria, nhập Smaria vào đế quốc mới. Kinh thánh ghi dân 10 bộ lạc Do Thái bị đầy đi Halah trên bờ sông Gozan, tỉnh Medes, trong vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) giữa đồng bằng sông Euphrates và Tigris.


10 bộ lạc Do Thái mất tích được đề cập trong các kinh Isaiah, Jeremah và Ezekiel là những dân Do Thái sống rải rác, trong đó Samaria hiện nay là vùng Tây Ngạn. Tổng cộng gồm 40,000 người, một phần mười dân số Do Thái thời ấy: Trong thời kỳ này dân số ở vùng Nam Do Thái (Jerusalem và Judah) trong 10 năm gia tăng do kết quả di dân.


Chính sách của đế quốc Neo-Assyria là chính sách của các đế quốc thực dân như Trung Hoa đời nhà Minh, nhà Nguyên khi chiếm Việt Nam đã đuổi dân ra khỏi thành phố, đồng hóa lấy người bản xứ hay như chính sách của Cộng Sản Việt Nam sau 30 tháng 4 năm 1975, đuổi dân đi vùng kinh tế mới, chiếm đất, cướp nhà, đưa dân từ Bắc vào Nam.


Dân Do Thái theo chính sách của đế quốc Neo-Assyria lưu vong sang Ai Cập, Iraq và Iran. Mười bộ lạc Do Thái không thất lạc qua các châu khác. Giáo Sư Eric Cline dựa trên các bằng chứng khảo cổ cho thấy không hề có việc 10 bộ lạc dân Do Thái đi đến Ấn Ðộ, Ethiopia, Phi Châu, Mỹ Châu hay các vùng khác


 


Tiến trình đạo Mormon


 


Tín đồ Mormon theo đạo qua giáo chủ Joseph Smith và kinh Mormon với những nhà tiên tri bắt đầu là Nephi, con của Lehi, bỏ trốn khỏi Do Thái từ 600 năm trước Thiên Chúa đến Mỹ Châu. Tuy nhiên, ông đạo Smith từ chối không cho ai xem các đĩa vàng vì “ai nhìn đĩa sẽ chết.”


Giống như Mohammed, ông đạo Smith mù chữ, chỉ đọc được chút ít, không biết viết, nhờ ông hàng xóm Martin Harris bỏ nhà đi theo ông đạo, dịch kinh từ các tảng đá, nhưng chỉ nghe mà không được nhìn ông đạo. Bà vợ ông Smith không như chồng, không sợ chết, ăn cắp 160 trang đầu tiên và thách thức ông Joseph Smith viết lại. Các học giả về kinh thánh nhận thấy 25,000 chữ trong kinh Mormon lấy thẳng từ kinh Cựu Ước, chương Isaiah (sách bà Ellan Smith: cái nhìn của người Do Thái về 10 bộ lạc Do Thái ở Mỹ) 2,000 chữ khác đến từ kinh Tân Ước. Về 350 tên thánh trong kinh Mormon thì có hơn 100 tên lấy từ Kinh Thánh.


Các chương sách Mormon bắt đầu bằng I, Nephi (Tôi, Nephi). Trong kinh thánh, 3 người con ông Noah (đóng thuyền cứu nhân loại ra khỏi trận đại hồng thủy) là Shem, Ham và Japhet. Ham là người da đen. Trong kinh Mormon cũng có 3 sắc dân Nephite là dân da trắng, đẹp trai, dân Lamanite là dân da đen bị Thượng Ðế ruồng bỏ.


Nhóm thứ ba là giống dân trung lập, trên thiên đàng đứng giữa Thượng Ðế và quỷ Lucifer. Vì lý do này mà người da đen có thể theo đạo nhưng không được làm mục sư hay được dự lễ trong đền thờ thiêng cho mãi đến năm 1965 bỗng nhiên những người Mormon lại được “Thiên Khải” cho biết người da đen cũng là người và năm 1978 nhà thờ Mormon Latter-day Saints cho phép người da đen làm linh mục và tham dự lễ như người da trắng. Ðạo Mormon bắt đầu cùng một vùng với dân Tin Lành Shakers mộ đạo (những người tin tận thế sắp xảy ra) ở vùng Nữu Ước được gọi là Burn-Over district, hết giáo phái cuồng tín này đến giáo phái cuồng tín khác đến hành đạo…


Dân Mỹ ở vùng này theo đạo Mormon một cách cuồng nhiệt phần vì họ thèm khát một tôn giáo mới thay cho Công Giáo lâu đời phần vì bắt đầu cuộc đời mới ở miền đất hứa họ cần một niềm tin mới.


Chủ thuyết của Mormon, 2 nhóm Thiện (Nephite) và Ác (Lamanite) giống như Thiện thắng Ác của tôn giáo thời Babylon, Trắng thắng Ðen cũng giống như thuyết của Manichean (Mani giáo thế kỷ thứ IV), tu sẽ giúp phần tử trắng lấn phần tử đen nhưng Mormon ghi lại chúa Jesus đã đến thăm dân Do Thái đến Mỹ bằng thuyền định cư ở Misouri, sau khi Chúa tái sinh và trước khi Chúa lên trời (không thấy ghi trong Phúc Âm).


Tín đồ Mormon ở vùng “cháy lan bởi ngọn lửa Thánh Linh” đã tin Chúa Jesus tái giáng trần ngày 21 tháng 3, 1843, khi có tận thế. Mormon trong thế kỷ thứ 19 là một trong những giáo phái Tin Lành như Methodist, tin vào sự tỉnh thức lần thứ hai của Thiên Chúa. Các tín đồ Mormon tin mãnh liệt vào điều này và khi Chúa trở lại, ngài cho “tình yêu cho mọi người.”.


Trong hai thập niên 1830 và 1840 hàng ngàn người Mỹ ở vùng Nữu Ước đã theo đạo Mormon. Những người tiên phong đi khai phá Mỹ Quốc đã tin vào các tông đồ, trong đó có Brigham Young, đã bảo cho họ biết hàng triệu triệu mẫu đất chưa ai khai thác là Thiên Ðàng Eden trong Kinh Thánh.


Dựa trên sách Mormon (cũng như Kinh Thánh, Kinh Torah hay Kinh Koran, sách được đọc nhưng không được hỏi) ông Smith phán Thượng Ðế, Thiên Thần và con người là một loài. Thượng Ðế ở trong mỗi người và con người tu đi đến Thượng Ðế, trở thành Thượng Ðế khác với các nhóm Tin Lành khác như Lutheran chủ trương con người hướng về hình ảnh Thượng Ðế nhưng con người không cùng da thịt như Thượng Ðế.


Cùng da thịt với Chúa nhưng Joseph Smith không đồng ý với Công Giáo về việc vinh danh Chúa trên thánh giá, phải đề cao vinh quang của Chúa hơn là sự thương khó, chịu nhục hình, vì vậy nhà thờ Mormon không có cây thánh giá (khác với các nhà thờ Tin Lành cây Thánh Giá không có hình Chúa sau khi bà hoàng hậu Anh Catherine vợ vua Henry VIII vứt cây thánh giá Công Giáo xuống sông). Joseph Smith tranh cử tổng thống năm 1844, chủ trương giải phóng nô lệ, nhưng sau đó bị đuổi ra khỏi New York đi lang thang, trong thời kỳ này Mormon tranh chấp nội bộ cũng như với chính quyền.


Năm 44 tuổi, Joseph Smith bị giết, được xem là thánh tử đạo ở thành phố Carthage, Illinois, trong khi ở tù đợi ngày ra tòa về tội phản quốc.


Mục Sư Brigham Young tiếp tục sự nghiệp của Joseph Smith đưa đoàn Mormon về tiểu bang Oregon, theo con đường tìm vàng. Năm 1874 xây nhà thờ ở tiểu bang Utah, ông đặt tên thành phố là Salt Lake City và trở thành thống đốc đầu tiên của Utah (Brigham Young gọi Utah là Deserter, người trong sa mạc). Ông Young cai trị vùng đất rộng lớn bao gồm cả Wyoming, Colorado và Nevada. Ông Young giống như các ông đạo Jones (tự sát tập thể ở Mexico) và David Koresh chủ trương dùng máu để chịu tội dựa theo câu nói của Chúa Jesus: “Người có yêu người đủ để đổ máu vì người ấy?”


Năm 1857, hơn 100 người ở vùng Mountain Meadow bị tàn sát vì đụng độ với tín đồ Mormon. Ông Young nổi tiếng tàn nhẫn, xem Utah là vùng đất riêng của Mormon. Tổng Thống James Buchanan gởi quân đến giải giới, ông Young hăm đốt cháy thành phố Salt Lake nhưng cuối cùng phải nhượng bộ, trả Utah về cho chính quyền liên bang Hoa Kỳ.


Tín đồ Mormon muốn tạo nước trời Do Thái, Zion, trên mặt đất nhưng cuối cùng đồng ý chỉ hành đạo và không thực hành sống đa thê (nhiều vợ vì Thượng Ðế có nhiều vợ). Từ đó, đạo Mormon chủ trương theo Phúc Âm Thịnh Vượng (Gospel of Prosperity), con người khi giàu thì sẽ thành người tốt, giàu là dấu hiệu của Ðức (Virtue).


Chúa dạy “người giàu lên nước thiên đàng khó hơn lạc đà qua lỗ kim” nhưng lỗ kim của đạo Mormon càng ngày càng lớn, tín đồ càng ngày càng giàu, Mormon xây các khu thương mại buôn bán đặt tên là Zion Coop Mercantile exchange Institution (ZCMI) với Salt Lake City là trung tâm thương mại. Từ đó triết lý của đạo Mormon thay đổi, nói đến Mormon là nói đến nhà tỷ phú hàng không Howard Hughes sống trong sạch và trung thành, là nói đến gia đình cô ca sĩ Marie Osmond, nhiều con, lúc nào cũng cười “lộ mười cái răng,” tính tình ôn hòa, không uống rượu, không uống café, không uống trà, không uống nước có chất caffeine, không hút thuốc, chỉ uống root beer (mặc dù lúc sau người ta biết anh em Osmond bị bệnh trầm cảm). Họ sống theo tôn chỉ: “Cố trở thành người hoàn toàn, bạn sẽ hạnh phúc.”


Ðại hội đảng Dân Chủ đã đưa “Thượng Ðế và Jerusalem” về với đảng, ngầm chỉ đạo Mormon của Thống Ðốc Mitt Romney thiếu cả hai. Nhưng đạo Mormon hiện nay không khác gì các đạo Tin Lành với nhà thờ lớn “Mega Church” như Lakewood của Mục Sư Joel Osteen ở Houston, họ đi theo con đường của đạo Tin Lành mà Max Weber và R. H. Tawney đã mô tả trong sách “tôn giáo và con đường đi lên của chủ nghĩa tư bản” vào thế kỷ 16, trong đó chủ nghĩa tư bản là vinh quang của đạo Tin Lành ngoài nhiệm vụ từ thiện và “giàu có đồng nghĩa với hạnh phúc!”

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT