Khi Ðồng Minh Tháo Chạy (12)

 


Phần II


Thân phận tiểu quốc


 


Chương 5


Tự túc tự cường


 


Vào lúc 8 giờ sáng ngày 28 Tháng Giêng 1973, từng đợt rồi lại từng đợt, tiếng còi tàu Hải Quân Việt Nam dọc cảng Sàigòn rú lên, xé tan màn sương buổi ban mai. Khi còi ngưng, chuông nhà thờ lại tiếp theo, ngân vang khắp đó đây, làm tăng thêm bầu không khí náo nhiệt của đô thành ngày hôm ấy.


Dù chẳng biết thực hư ra sao, ta cứ ăn mừng đi đã. Hiệp Ðịnh Paris ký rồi, chiến tranh chấm dứt. Từ góc đường Phan Ðình Phùng khu Ða Kao, đài phát thanh phóng ra bài ca oai hùng: “Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời.” Nhiều nhà mở radiô cho lớn, dường như muốn át đi tiếng ca ai oán vẳng lên từ radiô nhà bên cạnh: “Anh trở về trên đôi nạng gỗ… anh trở về dang dở đời em…” Hy vọng rằng từ nay, những chiếc băng ca không còn phải chở về trên trực thăng sơn mầu tang trắng. Dân chúng đô thành tạm gác mọi nỗi lo âu sang môt bên. Không khí ở những quán cà phê trở nên nhộn nhịp. Lệnh giới nghiêm nửa đêm chỉ được thi hành một cách lỏng lẻo và phòng trà đã bắt đầu mở cửa lại. Nha Du Lịch sửa chữa khách sạn Majestic, làm thêm một quán ngoài vỉa hè quay ra bờ sông, hết sức thơ mộng. Chiều chiều, giới phong lưu cũng như ái nữ của các nhân viên ngoại giao và du khách ngả mình trên những ghế võng mây mới mắc, uống chanh soda và nước dừa còn tươi, trông như một cảnh ở Hạ-uy-di. Bên kia đường, sông Sàigòn lặng lẽ trôi. Tiếng đại bác không còn vọng lại nữa, và hỏa châu cũng thôi lóe sáng trong đêm tối. Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh sầm uất, tiếng nói ồn ào của thực khách xen lẫn với những tiếng cười ròn rã, tiếng chuông rung từ những chiếc xe bán đồ rong trên bến; mùi khô mực nướng và mùi nước mía vừa mới ép quyện lẫn vào nhau, làm cho không khí thêm mời mọc, hấp dẫn.


Lại một lần nữa viễn ảnh hòa bình ló rạng. Và cứ thế, Hiệp Ðịnh Paris được các cơ quan truyền thông của chính phủ mô tả như một thắng lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Khác với Hiệp Ðịnh Genève Pháp ký năm 1954 sau thất bại Ðiện Biên Phủ; đàng này Việt Nam Cộng Hòa đâu có thất bại? Ban Tâm Lý Chiến trên đài đồng ca: “Cờ bay cờ bay trên thành phố thân yêu.” Tại Mỹ, các báo chí đăng hàng tít lớn “Hòa Bình với Danh Dự.” Ðài VOA cứ vậy mà phát sóng. Biết đâu, biết đâu đấy, một trang sử mới đã được mở ra rồi. Thế là đã tới thời “hậu chiến.”


Bây giờ nhiệm vụ chính yếu là củng cố xã hội và tái thiết kinh tế. Về xã hội, việc bức xúc là hiệu năng của nền hành chính. Ðể hỗ trợ công tác này chương trình “Cải Tổ Hành Chánh” được đề ra. Ông Quách Huỳnh Hà, người được giao trách nhiệm, đã cùng với sự tham gia tích cực của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh đôn đốc việc cải tổ. Công chức mọi cấp mọi ngành thay nhau đi tham dự các lớp học tập được tổ chức tại trung tâm huấn luyện Vũng Tàu. Trung tâm nằm cạnh bờ biển Long Hải thơ mộng. Các vấn đề được đem ra thảo luận: tản quyền về địa phương, phát triển nông thôn, tay súng tay cày, bài trừ tham nhũng. Toàn là những chủ đề thực tế, hết sức hấp dẫn.


 


Thăng trầm của nền kinh tế thời chiến


 


Thập niên 1960: từ xuất sang nhập. Thập niên này được Liên Hiệp Quốc tuyên dương là “Thập Niên Của Phát Triển.” Nắm lấy cơ hội, các nước Á Châu như Nam Hàn, Ðài Loan, Thái Lan, Nam Dương, Mã Lai, Singapore và kể cả Nhật Bản, đã nhảy vọt một bước dài trên đường mở mang kinh tế, xã hội. Họ đã vận dụng nhân lực, lấy xuất cảng làm động lực thúc đẩy mở mang kinh tế, thu hút đầu tư và kỹ thuật tiên tiến để cải tiến công nghiệp. Việt Nam đã mất cơ hội quý báu đó. Tuy nhiên trong những năm đầu thập niên, tình hình kinh tế còn khá triển vọng. Miền Nam vẫn còn xuất cảng được gạo. Với tổng xuất là 340,000 tấn, năm 1960 đánh dấu mức cao nhất trong lịch sử kinh tế Việt Nam Cộng Hòa. Từ năm đó, nông thôn bắt đầu thiếu an ninh, xuất cảng gạo xuống dần, và tới năm 1962, còn 85 ngàn tấn. Sau đó, không đáng kể, nhưng vẫn còn là xuất. Từ 1965 trở đi thì xuất đã biến sang nhập, có năm lên tới 760 ngàn tấn. Một trời một vực so với thời tiền chiến. Năm cao điểm là 1939: xuất cảng gạo của riêng Nam Bộ lên tới gần hai triệu tấn. Tới năm 1954 cũng vẫn còn 520,000 tấn (1).


 


1969-1971: ba năm vàng son


 


Khoảng thời gian 1969-1971, tình hình an ninh miền đồng bằng Cửu Long tương đối tốt, cho phép nhiều người nghĩ tới triển vọng kinh tế lâu dài. Ðây là khoảng thời gian cao độ của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa: Chương trình “Người Cày Có Ruộng“ (Land-to-the-Tiller) ra mắt ngày 26 Tháng Ba, 1970 đã thành công vượt dự đoán: gần một triệu mẫu ruộng được phân chia cho nông dân (2). Ðúng là cho vì nông dân đâu có trả tiền. Chính phủ bán công khố phiếu lấy tiền mua lại ruộng đất của điền chủ rồi chia cho nông dân. Ðiền chủ nào có quá 15 mẫu phải bán đất còn lại. Bầu không khí nông thôn náo nhiệt. Mặc dù chiến tranh vẫn còn, nhưng quyền sở hữu ruộng đất có tác động hết sức mạnh mẽ. Ðang từ tá điền, bốn triệu nông dân trở thành “địa chủ.” Nhưng làm tá điền là ăn chắc, còn địa chủ lại phải lo. Quyền sở hữu nó có hai mặt: được hưởng trọn vẹn kết quả mình làm ra, nhưng ngược lại, cũng phải gánh vác rủi ro của mùa màng, thời tiết. Người “tân điền chủ” vất vả, lam lũ:


 


Người ta đi cấy lấy công,


Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.


Trông trời, trông đất, trông mây,


Trông mưa trông gió, trông ngày, trông đêm…


 


Người nông dân chăm chỉ làm ăn như vậy nên kết quả trông thấy. Khi chương trình Người Cày Có Ruộng kết thúc vào Tháng Ba, 1973, bộ mặt nông thôn đã trở nên sinh động. Có ông giáo sư Mỹ nói với chúng tôi: “Người nông dân Việt Nam toàn là con cháu Adam Smith.” Nhà kinh tế người Anh nổi tiếng Adam Smith (thế kỷ 18), được coi như cha đẻ của kinh tế thị trường. Ông đặt động lực cạnh tranh của nền mậu dịch tự do dựa trên quyền tư hữu, là yếu tố căn bản nhất của phát triển kinh tế (3).


Thêm vào đó là tiến bộ kỹ thuật: loại lúa giống IR-3 phát xuất ở Phi Luật Tân được đem vào đồng bằng Cửu Long. Ở một số nước hậu tiến khác mà chúng tôi có dịp quan sát tại chỗ khi còn làm việc cho Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, thật là rất khó để cho nông dân chấp nhận những kỹ thuật mới. Họ không muốn thay đổi cung cách làm việc, bám chặt lấy những phương pháp sản xuất mà họ quen thuộc. Ðằng này, dù đã trồng lúa cổ truyền cả vài ba ngàn năm, đến lúc thấy có giống mới, nhân dân miền Nam vội vàng hưởng ứng. Và hưởng ứng rất nhiệt liệt, đặt ngay tên lúa là “Thần Nông.” Cứ cho đủ phân bón, lượng nước cho đúng mức là nó lên đầy đồng. Cây lúa không cao như lúa cổ truyền, nhưng bụ bẫm, dẻo dai. Khi có bão tố, nó nằm rạp xuống, chờ khi bão qua, lại đứng thẳng lên. Tới mùa gặt mà người ta về Cần Thơ, An Giang xem thì thật là sướng mắt: “Cánh đồng mêng mông, cánh đồng bát ngát, ôi cánh đồng dào dạt lúa thơm nồng.”


Ðến năm 1971 thì lúa thần nông đã phủ được trên 2.6 triệu mẫu ruộng, bằng 42% diện tích canh tác rồi. Hai động lực này đẩy mạnh sản xuất thóc lên trên bảy triệu tấn, cao hơn năm 1966 là 63%. Nhập cảng gạo lập tức xuống chỉ còn 160,000 tấn. Với đà này thì chẳng mấy lúc nữa là đã đủ gạo ăn và có khi còn dư để xuất cảng (4).


Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình “Người Cày Có Ruộng” là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất ở các nước hậu tiến (5). Nó là điểm vàng son của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa. Bao nhiêu hy vọng! Biết đâu chẳng mấy lúc nữa, ánh bình minh lại chẳng chiếu rọi khắp thôn quê? Cuối năm đó, một chương trình phát triển kinh tế hậu chiến do nhóm nghiên cứu Lilienthal – Vũ Quốc Thúc được cơ quan viện trợ Hoa Kỳ USAID tài trợ đã ra mắt. Người ta bắt đầu nghĩ tới phát triển lâu dài.


Tháng Giêng là tháng ăn chơi, mãi tới Tháng Hai mới đi trồng đậu, trồng khoai, trồng cà. Ðậu phọng mọc nhanh nên Tháng Ba là đậu đã già và “ta đi ta hái về nhà phơi khô.”


Nhưng rồi nào có đi hái đậu. Tháng Ba năm đó đại bác lại nổ rền trời trên vùng vĩ tuyến. Chiến tranh bỗng leo thang, bắt đâu từ cuộc “Tấn Công Mùa Xuân” của quân đội Bắc Việt tại Quảng Trị. Lúc này, thay vì thế công, Việt Nam Cộng Hòa lại chuyển sang thế thủ. Ðà tiến triển kinh tế bỗng khựng lại giữa “mùa hè đỏ lửa.” Trên 200 cầu bị hư hại, bao nhiêu cây số đường sá bị phá hủy, 40% sản xuất cao su bị mất vì rừng cao su đã trở nên bãi chiến trường. Thêm mấy trăm ngàn người nữa từ miền vĩ tuyến chạy vào phía nam, làm cho số người di cư tăng vọt lên 1,2 triệu. Áp lực nhu cầu tiếp tế càng thêm nặng nề: lương thực, nước uống, thuốc men, vệ sinh, lều trại. Năm ấy lại là năm mất mùa vì hạn hán! Nhập cảng gạo nhảy lên 284,000 tấn (6).


 


Nền kinh tế giao thời: 1973


 


Nói chung, nhìn vào kinh tế miền Nam lúc giao thời từ chiến tranh sang “hậu chiến,” từ có Mỹ tới không có Mỹ, ta thấy có sáu đặc tính rõ ràng (7):


Thứ nhất là cơ cấu chênh lệch: nghiêng hẳn về cung cấp dịch vụ, tương đương bằng 55% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Ðặc biệt là dịch vụ quốc phòng, hành chánh, quân đội đồng minh. Sản xuất hàng hóa, vật dụng chẳng có là bao.


Thứ hai là mức lệ thuộc vào nhập cảng: ngoài gạo còn xăng nhớt, phân bón, xi măng, hàng tiêu thụ, vật liệu sản xuất. Tất cả tương đương với hơn một nửa tổng số cung hàng hóa. Trung bình là phải nhập 750 triệu đôla một năm, khoảng 40 đôla đổ đồng trên đầu người (nên nhớ đây là đồng đôla với mãi lực thời ấy). Ðang khi đó xuất cảng (cao su, trà, hải sản, lông vịt) chỉ vào khoảng 4%-5% nhập cảng.


Thứ ba là mức tiết kiệm sụt xuống số âm: trung bình bằng -5% tổng sản lượng gộp nội địa GDP. Lúc còn hòa bình, nó là số dương. Có năm đã lên tới +6% GDP (1960). Khi không còn tiết kiệm nội địa thì đầu tư cho phát triển phải tùy thuộc vào tiền bạc từ bên ngoài.


Thứ tư là gánh nặng kinh tế của nạn nhân chiến cuộc: đoàn người di tản từ những vùng thiếu an ninh, đặc biệt là miền Trung, đã lên tới vài triệu. Một số đông di tản về thành thị, làm số người ở đây lên tới 40% tổng dân số (năm 1960 chỉ có 22%). Kết quả là thất nghiệp cao ở thành thị (14%) cùng với những tệ đoan xã hội đi kèm. Ðang khi đó nông thôn lại thiếu người canh tác.


Thứ năm là gánh nặng quốc phòng: tình trạng an ninh thời “hậu chiến” còn đòi hỏi một nhu cầu quốc phòng quá lớn, cần chi tiêu tới 50% ngân sách (242 tỷ đồng). Tài trợ cho phát triển chỉ còn 9% (66 tỷ đồng). Rồi vấn đề nhân lực: 1.2 triệu thanh niên còn phải vác súng, chưa kể 310,000 công, tư chức. Ngoài ra còn số người di tản kể trên, tất cả cũng vượt 30% nhân lực lao động. Thêm vào năm điểm này phải kể tới một điểm quan trọng khác.


Thứ sáu, tâm lý dựa vào viện trợ: nhìn lại giữa thập niên 1960, ta thấy cái tâm lý này nó đã mau bén rễ. Nền kinh tế Việt Nam bé nhỏ, hậu tiến, sản xuất căn bản là nông nghiệp. Khi quân đội Mỹ ào ạt kéo sang, nhu cầu quốc phòng, tiêu dùng, xây dựng hạ tầng cơ sở nhảy vọt. Mà sản xuất nội địa còn yếu kém, căn bản chỉ là gạo thóc. Ðể tránh tình trạng khan hiếm, lạm phát phi mã thì chỉ còn cách nhập hàng hóa từ ngoài vào. Nhưng lại nhập quá nhiều và quá nhanh. Tài trợ nhập hàng hóa gồm bốn nguồn: viện trợ nhập cảng (CIP) + viện trợ “thực phẩm phụng sự hòa bình” + viện trợ dự án + số đôla phía Mỹ mua tiền Việt Nam. Tổng số này đang từ 162 triêu năm 1964 tăng lên tới 830 triệu năm 1966, cao hơn năm lần. Tiền bạc dồi dào, cứ thế mà xài. Chi tiêu công cũng như tư có bề thả lỏng. Ở Saigon chẳng thấy thiếu thứ gì: radio, TV, tủ lạnh, máy điều hòa không khí. Báo chí ngoại quốc gọi Sàigòn là Hondaville. Ngoài nhập cảng, lại còn một nguồn khác: thuốc lá, rượu mạnh, đồ gia dụng từ hệ thống tiếp liệu PX lọt ra thị trường. Cứ đứng trước cổng căn cứ Long Bình mà xem thì rõ.


Chính sách kinh tế thường hay được tính toán dựa theo dự phóng xem số tiền đôla sẽ bơm vào nền kinh tế là bao nhiêu. Sự kiện này làm tăng lên cường độ của tâm lý lệ thuộc kinh tế. Và tai hại hơn, nó lại mang tới nhiều cơ hội tham nhũng cho nhiều người, ở mọi tầng lớp, trở thành ung nhọt xã hội.


(Còn tiếp)

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT