(Tiếp theo)
* Nguyễn Tiến Hưng
Khi bắt đầu nói, ông Thiệu tỏ vẻ xúc động rõ rệt, nhưng cương quyết. Sau phần mở đầu ngắn ngủi, ông cất cao tiếng nói. Bằng một giọng đanh và sắc, ông đòi Bắc Việt trực tiếp đàm phán với Việt Nam Cộng Hòa.
Việt Cộng sẽ chỉ tham gia như một phần của phái bộ Bắc Việt mà thôi. Nhấn mạnh từng chữ, ông nói: “Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rất tiếc là không thể tham dự những cuộc hòa đàm sơ bộ hiện nay tại Paris.”
Cả Quốc Hội nghe đến đó đều đồng loạt đứng dậy vỗ tay thật lâu. Ðèn chiếu và máy quay phim bỗng đổ dồn về phía Bunker. Sau này, ông Thiệu kể lại: “Tôi còn nhìn thấy rõ là Bunker lúc ấy cố làm ra vẻ bình tĩnh mà không được. Ông toát cả mồ hôi ra. Nhìn gương mặt ông, tôi không khỏi ái ngại, nhưng tôi không thể làm gì khác hơn được. Tôi không thể chấp nhận tình trạng có thể đưa mình tới chỗ liên hiệp với cộng sản.” (20) Bài diễn văn của ông Thiệu kéo dài 27 phút và bị những tràng pháo tay làm gián đoạn mười tám lần. Quyết định này của ông đã là một tin quan trọng. (21)
Bài diễn văn ngày Quốc Khánh năm 1968 của ông Thiệu là một nước cờ then chốt từ một mưu lược do chính Nixon thúc đẩy.
Tờ Washington Post đăng tít hàng đầu: “Nam Việt Nam tẩy chay hòa đàm ngày 6 Tháng Mười Một,” và phần tin tức của bài báo ghi rằng: “Hậu quả hành động của Thiệu là làm người ta nghi ngờ về những nước cờ của Mỹ nhằm mở cuộc thương thuyết với Cộng Sản để chấm dứt chiến tranh.”
Ngày bầu cử tổng thống là Thứ Ba, mùng 5 Tháng Mười Một. Như sử gia nổi tiếng Theodore White đã nhận định trong cuốn “Việc Tạo Dựng Nên Ngôi Vị Tổng Thống” (The Making of The Presidency, 1968):
“Giả như hòa bình đã hiển nhiên như một sự thực trong ba ngày chót của cuộc bầu cử năm 1968, thì Hubert Humphrey có thể đã đắc cử; có thể ông ta đã là một tổng thống thiểu số, nhưng dù sao cũng là tổng thống. Thế nhưng, qua những xáo trộn của ba ngày chót đó, người ta thấy rằng vụ ngưng ném bom bắt đầu sáng Thứ Sáu, chắc không thể nào làm ngưng được máu người Mỹ vẫn đổ ở Á Châu; và dư luận quần chúng đang thuận lợi cho Humphrey, bỗng nhiên lại ngả về phía Nixon. (22)
Nixon thắng cử chỉ có 43.4% tổng số phiếu toàn quốc, so với 42.7% cho Humphrey, hơn nhau chỉ nửa triệu phiếu. Nếu tính cho tròn theo phương pháp thống kê thì mỗi người được bằng nhau là 43%. Dư luận cho rằng “nếu như ngày bầu cử nhằm vào Thứ Bảy hay Chủ Nhật (tức là ngay sau ngày ngưng oanh tạc), thì có thể Nixon đã thua. Nhưng giá như ngày bầu cử được tổ chức một tuần lễ muộn hơn nữa, thì Nixon có thể còn thắng từ một triệu đến hơn năm triệu lá phiếu.” (23)
Sau này, chính Tổng Thống Johnson đã xác định trong cuốn hồi ký của ông “The Vantage Point” rằng: “Ngày một tháng 11, sau khi cho hay là sẽ đi dự Hòa Ðàm Paris, nhà lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa lại quyết định không tham dự. Tôi tin chắc rằng sự việc đó đã làm cho ông Humphrey thất cử.” (24)
Vắt chanh bỏ vỏ
Nếu như tin ông Nixon thắng cử có làm ông Thiệu hài lòng đôi chút thì nó cũng chỉ là trong chốc lát. Ðại Sứ Bunker và cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vô cùng bực tức về ông.
Ông Thiệu cũng cảm thấy rằng mình đã hơi quá tay. Ngày 12 Tháng Mười Một, Tổng Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford công khai cảnh cáo ông Thiệu rằng nếu ông không tham dự Hòa Ðàm Paris, Hoa Kỳ sẽ hành động một mình và không cần đến ông. Tờ New York Times thuật lại việc ông Clifford đã không đè nén được sự nổi giận của ông về việc ông Thiệu đã chống lại cuộc đàm phán vào giây phút chót.
Ở Sài Gòn, lời cảnh cáo của Clifford lại được giải thích là Johnson đang nổi sùng với ông Thiệu và có thể quyết định lật đổ ông. Ông Thiệu kể lại: “Nếu Johnson lật đổ tôi trước khi Nixon nhậm chức, thì cái đó hẳn là một giải pháp êm đẹp nhất cho Nixon: ông ta sẽ khỏi phải đích thân lật đổ tôi. Tôi đâu có căn cứ chính sách của tôi vào một cá nhân duy nhất, mà vào chính sách của Hoa Kỳ. Tôi biết chính sách của Hoa Kỳ là thương lượng để đạt được một chính phủ liên hiệp ở miền Nam, chứ không phải thắng lợi quân sự. Tôi không bao giờ có ảo tưởng là chính sách Nixon nhằm giúp miền Nam thắng miền Bắc về mặt quân sự.”
Sau này, khi lên truyền hình đọc bài diễn văn từ chức vào ngày 22 Tháng Tư, 1975, ông Thiệu còn nhắc lại rằng: “Vào những ngày vô cùng khó khăn năm 1968, áp lực của Mỹ đè lên chúng ta không phải là nhỏ.”
Việc ông Thiệu lo ngại về đảo chính sau khi Nixon đắc cử cũng không hẳn là không có lý do. Tác giả Seymour Hersh trong cuốn “The Price of Power,” sau khi đúc kết các tài liệu về vụ này cho hay rằng sau cuộc bầu cử 1968, chính ông Kissinger đã báo động cho phía Nixon về mưu đồ của Clark Clifford và cảnh cáo: “Nếu ông Thiệu chịu chung một số phận với ông Diệm thì tất cả các dân tộc trên thế giới sẽ nghĩ rằng làm kẻ thù của Mỹ có thể là nguy hiểm, chứ làm bạn với Mỹ chắc chắn là chết.” (25)
Một tuần lễ sau khi bầu cử, ngày 11 Tháng Mười Một, Nixon tuy đã thắng nhưng chưa chính thức nhậm chức (ngày 20 Tháng Giêng, 1969 mới đăng quang) đã tới thăm Johnson tại Bạch Cung và được hướng dẫn về chính sách đối ngoại. Cuối phiên họp, khi bàn về Việt Nam, Nixon tuyên bố: “Chính phủ Johnson không những có thể hành động nhân danh chính quyền hiện nay mà còn nhân danh cả toàn quốc, và như thế có nghĩa là nhân danh cả chính quyền (của Nixon) sắp tới nữa.” Khi tin này được công bố, báo chí lập tức giải thích câu phát biểu của Nixon là chính tổng thống tân cử cũng đã bắt đầu “làm áp lực” đối với ông Thiệu. (26)
Và đúng như vậy, chỉ vài ngày sau khi Nixon thắng cử, cố vấn của Nixon là Mitchell đã điện thoại yêu cầu bà Chennault nói với ông Thiệu là “nên tham dự ngay các cuộc hòa đàm ở Paris.” Bà vô cùng tức giận, cho rằng Nixon đã phản bội. Bà còn nhớ trước ngày bầu cử, Mitchell đã gọi các cuộc hòa đàm ở Paris là “giả mạo,” xúi ông Thiệu đừng tham dự, lúc nào cũng giục “hãy cố thủ” (please hold on!) mà bây giờ lại trở mặt, cho việc gửi đại diện tham dự là quan trọng.
Thế nhưng, Nixon đã lên lưng ngựa rồi, bây giờ đâu còn cần ai nữa! “Ðường ta, ta cứ đi,” Nixon trực chỉ phóng tới đích. (27)
(Còn tiếp)

















































































