Không được! Ông Nixon đang ra tranh cử nhiệm kỳ hai và ngày bầu cử Tổng Thống đã gần kề. Nếu có gì trục trặc về hòa bình là nguy to.
Ngày 13 tháng 7, 1971, sau khi đi Bắc Kinh về, Kissinger gặp Nixon tại San Clemente. (Hình: Tòa Bạch Ốc)

Hồi 1968, chính Nixon đã xúi Sàigòn gây ra trục trặc đó để đánh bại Humphrey. Bây giờ Nixon đã có kinh nghiệm bản thân, đâu để xảy ra như vậy được.
Thuyết phục mãi không thành công, cuối cùng Nixon lại dùng đến áp lực. Nhưng để cho áp lực có hiệu quả, trước hết là phải áp đảo tinh thần ông Thiệu: Ðảo chánh.
White House
Ngày sáu tháng 10, 1972
Thưa Tổng Thống,
“…Tôi yêu cầu ngài cố áp dụng mọi biện pháp để tránh sinh ra sau này một tình huống có thể đưa tới những biến cố tương tự như biến cố mà chúng tôi đã ghê tởm năm 1963 và chính bản thân tôi cũng đã kịch liệt phản đối năm 1968…”
Trân trọng
Richard Nixon
Biến cố năm 1963 là đảo chánh và ám sát Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Còn biến cố 1968? Nixon đã nhắc khéo tới sự việc xảy ra sau cuộc bầu cử năm 1968 (ông Thiệu tháu cáy giúp Nixon thắng cử) làm chính phủ Johnson phẫn nộ, định lật đổ ông trước khi Nixon nhậm chức vào Tháng Giêng 1969 (xem Chương 1). Hồi đó, Nixon và Kissinger nghe biết, đã cực lực phản đối và cứu được ông Thiệu. Bây giờ lại đến chính họ theo con đường này (15). Về việc cứu ông Thiệu năm 1969, sau này Kissinger còn tế nhị nhắc tới trong một bức thư ông gửi cho ông Thiệu vào đầu năm 1980: “Giá như ý định của Tổng Thống Nixon và của tôi là phản bội ngài, thì chúng tôi đã có thể làm như thế hồi đầu năm 1969 rồi” (16).

Trở lại áp lực để ký Hiệp định Paris, ngày 21 tháng 10, 1972, hai chuyên viên trong Hội Ðồng An Ninh quốc gia là Roger Morris và Tony Lake viết cho Kissinger một phúc trình, trong đó có nói tới các phương cách lật đổ ông Thiệu. Sau này Morris xác nhận: “Tôi bảo Tony rằng hai đứa mình phải cho Henry (Kissinger) hiểu rõ là ta sẵn sàng thanh toán Thiệu” (17).
Ðòn phép từ Tòa Bạch Ốc tới Dinh Ðộc Lập Chiến lược của Nixon-Kissinger đối với Việt Nam Cộng Hòa để đòi hỏi phải chấp nhận hiệp định được gọi là “cái gậy và củ cà rốt”. Như người cỡi trên lưng con lừa, một tay cầm cái gậy và tay kia, củ cà rốt. Nếu lừa không chịu đi, đã có cái roi; nếu ngoan ngoãn đi thẳng thì có củ cà rốt lủng lẳng trước mắt:
White House
Ngày 16 tháng 10, 1972
Thưa Tổng Thống,
…
“Riêng đối với tôi thì điều khoản quan trọng nhất của hiệp định, ngoài những khía cạnh quân sự của nó, là chính phủ ngài, quân lực và những định chế chính trị của VNCH sẽ còn nguyên vẹn sau khi cuộc ngưng bắn được tôn trọng. Trong thời kỳ tiếp theo sau đình chiến, ngài có thể hoàn toàn an tâm là chúng tôi sẽ tiếp tục cung cấp cho chính phủ của ngài sự yểm trợ đầy đủ nhất, kể cả viện trợ kinh tế và bất cứ viện trợ quân sự nào phù hợp với những điều khoản đình chiến của hiệp định này.”
…

“Ý định của chúng tôi là quyết tâm tôn trọng những điều khoản trong hiệp định và những thỏa thuận ký kết với Hà Nội, và tôi biết đó cũng là thái độ của chính phủ ngài. Chúng tôi đòi phải có đi có lại, và đã cảnh giác cho cả họ lẫn các đồng minh chủ chốt của họ biết rõ như thế. Tôi xin cam kết với ngài rằng bất cứ một sự bội tín nào về phía họ cũng sẽ bị chúng tôi lên án khắt khe nhất và nó sẽ có những hậu quả trầm trọng nhất.”
…
Trân trọng
Richard Nixon
Ký thư xong, Nixon lại còn viết tay thêm:
“Tiến sĩ Kissinger, Tướng Haig và tôi đã bàn bạc rất kỹ về đề nghị (hòa bình) này. Tôi tin chắc ràng đó là giải pháp tốt nhất chúng ta có thể đạt được, và cũng là giải pháp đáp ứng được điều kiện tuyệt đối của tôi là Việt Nam Cộng Hòa phải được tồn tại là một quốc gia tự do…” (ký tắt) RN.
Ðộc giả lưu ý là ở đoạn này, chính Tổng Thống Nixon đã gạch dưới chữ tuyệt đối.

Ðó là củ cà rốt trong thông điệp do chính Kissinger mang sang Sàigòn đưa cho ông Thiệu. Những cuộc tranh luận giữa hai bên tại Dinh Ðộc Lập lúc đó đã diễn ra trong bầu không khí hết sức căng thẳng (18). Phía Việt Nam Cộng Hòa nhất định không chấp nhận bản dự thảo Hiệp Ðịnh.
Tuy bên trong là vậy, nhưng ngày 26 tháng 10, khi về tới Washington, Kissinger vẫn họp báo và tuyên bố câu lịch sử “hòa bình đang trong tầm tay” (peace is at hand). Washington và Sàigòn chấn động. Ðây là bất ngờ về ngoại giao thứ ba của Kissinger.
Và khi ánh sáng của hòa bình chiếu rọi, hào quang của Nixon-Kissinger chiếu sáng theo. Không tới hai tuần sau, ngày 7 tháng 11, 1972, Nixon đã thắng cử nhiệm kỳ hai. Sự thành công của ông được người Mỹ gọi là “long trời lở đất” (landslide). Ðại đa số nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm ông: 60.7% so với 37.5% cho McGovern. Ðây là số phiếu cử tri cao thứ nhì trong lịch sử nước Mỹ, và là số phiếu cao nhất mà một ứng cử viên Cộng Hòa đã được. Từ Âu sang Á, tiếng tăm ông lừng lẫy.

Té ra viễn tượng hòa bình Việt Nam lại một lần nữa đóng góp cho sự thành công của Nixon, và đưa đồ đệ của ông lên đài danh vọng. Nhưng chiêu bài “hòa bình” đã được vận dụng một cách trái ngược nhau trong hai lần tranh cử. Lần thứ nhất (1968) thì hòa bình ngoài tầm tay; lần thứ hai (1972) thì hòa bình đang trong tầm tay.
Dù rằng Tổng Thống Nixon chưa bắt đầu nhiệm kỳ hai, nhưng bầu cử xong là mọi việc cũng xong. Ngay từ lúc dọn vào Tòa Bạch Ốc, cả Nixon lẫn Kissinger đều muốn giải quyết vấn đề Việt Nam cho dứt điểm. Muộn lắm là nội trong nhiệm kỳ đầu. Làm thế nào để còn hái được nhiều thành quả ngoại giao khác vào nhiệm kỳ hai. Nixon muốn chú trọng vào việc bang giao với Trung Cộng và Liên Xô. Kissinger thì muốn hướng về Âu Châu và Trung Ðông nên ông gọi 1973 là “Năm của Âu Châu”.
Bầu cử ở Mỹ xong rồi, và nhiệm kỳ thứ hai của Nixon sắp bắt đầu mà tại sao ông Thiệu vẫn chưa chịu chấp nhận ký vào hiệp định? Lý do chính là vì ông còn lo ngại về việc quân đội Bắc Việt tiếp tục ở lại. Ðể ông Thiệu yên tâm, ông Nixon an ủi rằng đừng có lo nữa, vì chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề này bằng cách là, thứ nhất, cố lồng vào bản hiệp định một câu nói tới việc tôn trọng vùng phi quân sự (DMZ) và thứ hai, sẽ đề nghị thêm một khoản nói tới việc giải ngũ trên căn bản “bên này giải ngũ một, bên kia giải ngũ một”, rồi cho “những người giải ngũ trở về với gia đình họ.” Nghe đơn sơ là như vậy.
Ngoài ra:
White House
Ngày 14 tháng 11, 1972
Thưa Tổng Thống,
…
“Còn quan trọng hơn rất nhiều những gì chúng tôi nói trong hiệp định về vấn đề này là những gì chúng tôi sẽ làm trong trường hợp quân địch tái diễn xâm lăng. Tôi tuyệt đối cam đoan với ngài rằng: Nếu Hà Nội không tuân theo những điều kiện của hiệp định này, thì tôi cương quyết sẽ có hành động trả đũa mau lẹ và ác liệt.”
…
Trân trọng
(kt) Richard Nixon
Thư đi, thư lại, cũng vẫn chưa xong. Mà năm 1973 lại tới rồi! Nixon dọa nặng hơn, rằng nếu ông Thiệu cứ tiếp tục chống đối và “tách rời” khỏi lập trường của Mỹ thì có thể “dẫn tới thảm họa là làm mất đi tất cả những gì chúng ta đã cùng nhau tranh đấu trong cả một thập niên qua”. Và ngược lại:
White House
Ngày 5 tháng 1, 1973
Thưa Tổng Thống,
…
“Nếu ngài quyết định, và tôi tin tưởng ngài sẽ quyết định, tiếp tay với chúng tôi, tôi xin bảo đảm với ngài rằng tôi sẽ tiếp tục yểm trợ ngài trong giai đoạn hậu chiến, và chúng tôi sẽ trả đũa bằng toàn thể sức mạnh của Hoa Kỳ nếu như BV vi phạm hiệp định.

Cho nên, một lần nữa, tôi xin kết thúc thư này bằng lời kêu gọi ngài hãy sát cánh với chúng tôi.”
Trân trọng
(kt) Richard Nixon
Khi ngày đăng quang nhiệm kỳ đã gần kề, chỉ còn một tuần lễ nữa, Nixon giơ cái gậy thật to (19):
White House
Ngày 14/1/1973
Thưa Tổng Thống,
“…Tôi nhất quyết cho phê chuẩn bản Hiệp Ðịnh vào ngày 23 tháng 1, và sẽ ký vào ngày 27 tháng 1, 1973 tại Paris. Tôi sẽ làm việc này dù phải làm một mình, trong trường hợp đó, tôi sẽ công khai tố cáo chính phủ của ngài làm cản trở cho công cuộc vãn hồi hòa bình tại Việt Nam.”
“Kết quả không tránh khỏi sẽ là việc cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức, mà dù có sự thay đổi về nhân sự trong chính phủ của ngài cũng không thể cứu vãn được…”
Hồi tuyển cử 1968, Johnson sau cùng cũng quyết định là sẽ đơn phương đàm phán với BV, nhưng ít nhất là ông còn mở cửa ngỏ, không khóa chặt lại. Johnson tuyên bố là nếu miền Nam muốn tham gia thì vẫn được tham gia. Bây giờ Nixon đe là sẽ “công khai tố cáo chính phủ của ngài làm cản trở cho công cuộc vãn hồi hòa bình ở Việt Nam” rồi sẽ “cắt viện trợ quân sự và kinh tế ngay lập tức,” và sau đó, “dù có sự thay đổi về nhân sự… cũng không thể cứu vãn được.”
Trong ‘tự điển chính trị’ về mối bang giao Hoa Kỳ-VNCH, “thay đổi nhân sự” là câu nói nhẹ, đồng nghĩa với việc đảo chính. Năm 1963, khi việc chuẩn bị lật đổ TT Ngô Ðình Diệm đang tiến hành ráo riết, TT Kennedy, trong buổi phỏng vấn với Walter Cronkite trên đài CBS, đã nhắc tới nhu cầu “thay đổi nhân sự” (20).
Tuy nhiên, khi nào Nixon giơ cái gậy ra, thì ông cũng có kèm theo củ cà rốt. Trong cùng một văn thư, Nixon quả quyết: “Chúng tôi sẽ phản ứng mãnh liệt trong trường hợp bản Hiệp Ðịnh bị vi phạm”.
“Cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh tới những cam kết tiếp tục của chính phủ Hoa Kỳ đối với tự do và tiến bộ của VNCH.”
“Tôi quyết định sẽ tiếp tục viện trợ đầy đủ kinh tế và quân sự cho VNCH…”
Và rõ ràng hơn nữa:
White House
Ngày 17 tháng 1, 1973
Thưa Tổng Thống,
…
“Tự do độc lập của nước VNCH vẫn luôn luôn là mục tiêu trọng đại trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Tôi đã theo đuổi mục tiêu này trong suốt cuộc đời chính trị của tôi…”
“Tôi cả quyết rằng việc từ chối ký bản Hiệp Ðịnh này sẽ đưa đến việc cắt đứt mọi viện trợ cho VNCH…”
“Nếu ngài khước từ ký vào bản Hiệp Ðịnh, tôi sẽ không còn cách nào giúp đỡ chính phủ VNCH nữa. Quốc Hội và Dư luận Hoa Kỳ sẽ trói chặt tay tôi…”
“Tôi đang chuẩn bị gửi Phó TT Agnew qua Sàigòn để thảo luận với Ngài về mối quan hệ của chúng ta trong thời hậu chiến… Phó TT Agnew sẽ công khai tái xác nhận những bảo đảm tôi đã hứa với Ngài. Tôi xin nhắc lại những cam kết đó như sau:
Thứ nhất, Hoa Kỳ công nhận chính phủ của ngài là chính phủ duy nhất hợp pháp ở miền Nam Việt Nam; Thứ hai, HK không công nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ miền Nam; và Thứ ba, HK sẽ phản ứng mãnh liệt nếu bản Hiệp Ðịnh bị vi phạm…
Tôi đang chuẩn bị để họp riêng với Ngài tại San Clemente, California, và lúc đó chúng ta có thể xác nhận lại một lần nữa sự hợp tác giữa chúng ta và những bảo đảm của Hoa Kỳ…
Tôi cho rằng Ngài có hai lựa chọn chính yếu: Một là tiếp tục cản trở việc ký kết. Ðó là hành động có vẻ lẫm liệt nhưng thiển cận; hai là dùng bản Hiệp Ðịnh như một phương tiện để xây dựng một căn bản mới cho nền bang giao HK-VNCH. Tôi không cần phải nói ngài cũng biết rõ đây là con đường duy nhất để bảo vệ mục tiêu chung của chúng ta.”
Trân trọng,
(kt) Richard M. Nixon
Những lựa chọn được kê ra rõ ràng là như vậy. Dường như ông Thiệu chỉ còn một cách là bám víu: Ông gạch dưới và đánh dấu * bên chữ “guarantees” (bảo đảm) ở đoạn trên lá thư, và gạch dưới -hai lần- chữ “U.S.guarantees” (bảo đảm của Hoa Kỳ) ở đoạn cuối.
Tuy không phải là một chuyên gia về ngoại giao, nhưng tôi nghĩ trong lịch sử của Hoa Kỳ đã chưa có trường hợp nào lại có những áp lực trực tiếp, rõ ràng, cạn tàu ráo máng từ một vị Tổng Thống gửi tới một đồng minh như thế này. Cũng chưa bao giờ có những cam kết mạnh mẽ, dứt khoát, được lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy.
Tới đây thì VNCH nhượng bộ.
Mật đàm đã giúp Hoa Kỳ thành công trong việc giải quyết chiến tranh Việt Nam nội trong nhiệm kỳ đầu của Nixon. Chỉ chậm có hai ngày:
Ngày 20 tháng 1 năm 1973 là ngày Nixon đăng quang nhiệm kỳ hai;
Ngày 21 tháng 1, TT Thiệu họp với Ðại sứ Bunker để trao văn thư gửi TT Nixon, thông báo VNCH sẽ ký bản Hiệp Ðịnh; Ngày hôm sau Nixon hồi âm:
White House
Ngày 22 tháng Giêng 1973
Thưa Tổng Thống,
“…Với lòng can đảm và kiên trì, ngài đã bảo vệ được quyền lợi của dân tộc Việt Nam trong công cuộc theo đuổi mục tiêu duy trì tự do và độc lập.”
Trân trọng,
Richard M. Nixon
Trong bầu không khí xám ngắt lạnh lẽo và mưa sụt sùi buổi xế trưa ngày Thứ Ba, 23 tháng Giêng hồi 12 giờ 45, hai ông Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ đã phê chuẩn Hiệp Ðịnh Paris tại “Trung Tâm Hội Nghị Quốc Tế”, khách sạn Majestic, Ðại lộ Kléber. Hai bên giằng co về số trang và so sánh bản văn rồi phê chuẩn vào 36 chỗ. Ông Kissinger ký tắt bằng hai chữ “HK” (Henry Kissinger) và ông Lê Ðức Thọ ký vỏn vẹn “Thọ”. Kissinger dùng một số bút mực và tặng cho bộ tham mưu của ông mỗi người một cái. Lê Ðức Thọ thì đưa bút của mình cho Kissinger “để nhắc Hoa Kỳ về việc thi hành nghiêm chỉnh Hiệp Ðịnh này” (20). Vừa ký xong, Kissinger vội bay về Washington.

Ngày 27 tháng Giêng, Ngoại Trưởng Mỹ William Rogers và Ngoại Trưởng Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Lắm đồng ký. Hiệp Ðịnh Paris bắt đầu có hiệu lực.
Khi mọi việc đã êm đẹp, có phóng viên UPI là bà Helen Thomas muốn tò mò hỏi xem Kissinger làm gì vào chính lúc ông Rogers đặt bút xuống ký. Vì múi giờ khác nhau, 11 giờ sáng bên Paris là năm giờ sáng tại Washington. Văn phòng báo chí của Kissinger trả lời:
“Hãy làm tình, đừng đánh nhau” (Make love not war).
(Còn tiếp)

















































































