Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tự truyện

         


Phạm Bá Hoa


 


Thưa quí vị, quí bạn,


Là một quân nhân dù trên cổ không còn mang “tấm thẻ bài” ghi tên Phạm Bá Hoa, loại máu O, số quân 50A/400.005, tôi xin góp phần ôn lại chuyện hôm qua về quân đội mà tôi đã phục vụ 20 năm 11 tháng 18 ngày.


Ôn lại chuyện hôm qua, không phải để hoài niệm hay luyến tiếc bất cứ điều gì, mà để xác định Việt Nam Cộng Hòa thật sự là một chế độ phục vụ quốc gia dân tộc, để khẳng định một lập trường chính trị của bản thân, để góp phần un đúc ý chí của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào dấn thân thực hiện hay góp phần dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam.


Trong bài này, xin quí vị quí bạn, vui lòng nhìn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như thể Một Con Người, và vui lòng nghe “Người đó tự truyện.”


Xin bắt đầu.


 


Kính chào quí bạn, những “tế bào” đã tạo nên “Tôi.”


“Tôi bị bức tử” cách nay 37 năm, nhưng cứ vào mùa hè oi bức, quí bạn đã cùng nhau tổ chức “cúng giỗ Tôi” với những nghi thức quân sự trong những điều kiện mà quí bạn có được. Lễ hội trang nghiêm đó, có tên gọi “Ngày Quân Lực.” Vậy là quí bạn vẫn nhớ đến Tôi. Ðiều đó Tôi biết, và Tôi rất xúc động! Vì vậy mà Tôi thấy cần phải tâm sự đôi điều với quí bạn về bản thân Tôi, bản thân “một con người” có tuổi đời quá trẻ, nhưng Tôi có sức mạnh của một lịch sử hào hùng, với dũng khí của một dân tộc vẻ vang, và xông pha trận mạc bằng lý tưởng tự do dân chủ. Những tưởng, mình sẽ góp phần quan trọng đạt đến mục tiêu bảo vệ và phát triển quốc gia, mà trong đó mọi người được sống trong chế độ dân chủ tự do, được tôn trọng các quyền sống, bao gồm quyền mưu tìm hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình, và quê hương Việt Nam sẽ trở nên hùng mạnh.


Tôi luôn giữ cho mình niềm hãnh diện về điều Tôi nghĩ. Bởi, Tôi vững tin đất nước thân yêu của chúng ta, thể nào cũng đạt đến đài vinh quang bằng sức sống của mình, sức sống của một dân tộc đạo nghĩa và hiếu hòa, cầu tiến và nhẫn nại, luôn luôn đặt tổ quốc lên trên mọi tổ chức cũng như mọi quyền lợi khác.


Và cuộc đời của Tôi bắt đầu như thế này…


“Tôi” được sinh ra trong một hoàn cảnh khác thường so với “những đứa bạn xa xôi” của Tôi, và cái chết tức tưởi của tôi cũng chẳng giống ai trên cái cõi đời này. Cha mẹ Tôi đều là người Việt Nam, hoàn toàn Việt Nam. Trong người Tôi là dòng máu Việt Nam, hoàn toàn Việt Nam. Nhưng người “cho phép Tôi trở thành bào thai” lại ở cách xa cha mẹ Tôi 7 múi giờ về phía tây trên quả địa cầu, đó là nước Pháp. Lúc bấy giờ là đầu trung tuần tháng 5 năm 1950, Quốc Hội Pháp thông qua dự luật thành lập một quân đội cho quốc gia Việt Nam với quân số 60.000 người. Nhưng mãi 2 năm sau, một văn kiện của Quốc Trưởng Bảo Ðại, Tôi mới được chánh thức chào đời tại Sài Gòn, thủ đô nước Việt Nam thống nhất. Vị ký văn kiện cho Tôi chào đời được ví như “cha tôi.” Hôm ấy là ngày 1 tháng 5 năm 1952. “Mẹ tôi’’ là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng. Ngôi nhà đầu tiên của Tôi tọa lạc trên đại lộ Trần Hưng Ðạo, Quận 5, Sài Gòn. Trong khai sanh ghi Tên tôi là “Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam.”


Tôi xin nhắc lại đôi nét về lịch sử cận đại nước ta, như để giải thích với quí bạn khi Tôi dùng chữ “thủ đô nước Việt Nam thống nhất” mà Tôi nói ở trên. Năm 1858, Việt Nam ta bị thực dân Pháp xâm lăng và cai trị. Họ chia nước ta như là 3 quốc gia nhỏ mà họ gọi: Nam Kỳ là thuộc địa, Trung Kỳ với Bắc Kỳ là bảo hộ. Nhưng cốt lõi của chính sách cai trị, dù tên gọi như thế nào thì cả ba Kỳ đều là thuộc địa.


Trong thế giới chiến tranh lần thứ 2 (1939-1945), vào thượng tuần tháng 3 năm 1945, quân Nhật đảo chánh quân Pháp tại Việt Nam. Ðầu tháng 5 năm 1945, Ðức quốc xã đầu hàng quân Ðồng Minh chấm dứt chiến tranh vùng Châu Âu, và Nhật Bản đầu hàng hiệp chủng quốc Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh vùng Châu Á Thái Bình Dương từ ngày 15/8/1945. Quân đội Anh được trao trách nhiệm giải giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở xuống phía nam, quân Trung Hoa của Thống Chế Tưởng Giới Thạch giải giới từ vĩ tuyến 16 trở lên phía bắc. Thực dân Pháp đã theo chân quân đội Anh quay lại chiếm Việt Nam. Ðầu tiên là Sài Gòn, rồi các tỉnh đồng bằng Cửu Long. Lúc ấy, các đảng chính trị khuynh hướng quốc gia dân tộc, quá tin vào ông Hồ Chí Minh -Chủ tịch đảng cộng sản- nên bị ông Hồ giành lấy chánh quyền và loại trừ hầu hết những nhân vật cao cấp của các đảng chính trị nói trên, sau đó ông Hồ đứng ra thương thuyết với Pháp, nhưng thương thuyết không thành. Thế là hai bên -thực dân Pháp và Việt Minh cộng sản- đánh nhau từ trung tuần tháng 12 năm 1946.


 


1950-1954, giai đoạn hình thành


 


Khi Pháp bị sa lầy trong cuộc chiến với cộng sản Việt Nam, chánh phủ Pháp thực hiện chính sách đẩy người Việt không cộng sản nhập cuộc đánh nhau với người Việt cộng sản, bằng cách thành lập quân đội cho quốc gia Việt Nam. Trong bối cảnh đó, cựu hoàng Bảo Ðại và các đảng chính trị quốc gia cùng thân hào nhân sĩ, vận động cho một nước Việt Nam thống nhất và độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp. Hạ tuần tháng 4 năm 1949, một hội nghị với khoảng 2.000 người tham dự mà một phần ba trong số đó là Pháp kiều có cơ sở kinh doanh tại Việt Nam. Hội nghị đồng thuận bãi bỏ chế độ thuộc địa, nước Việt Nam là một quốc gia thống nhất. Và Quốc Hội Pháp đã phê chuẩn quyết định của hội nghị. Ðó cũng là lúc cựu hoàng Bảo Ðại về nhận chức Quốc Trưởng.


Việc thành lập một quân đội cho quốc gia Việt Nam, xuất phát từ quyền lợi của nước Pháp thực dân. Ðiều đó chắc không bạn nào nhầm lẫn. Và rất có thể vì vậy mà có bạn thắc mắc; “Tại sao cựu hoàng và các đảng chính trị lại tham gia vào chính sách đó của Pháp?”


Rõ ràng là “giữa thực dân Pháp với Việt Minh cộng sản, chẳng bên nào vì tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Tôi suy đoán là những nhà chính trị khuynh hướng quốc gia của chúng ta, khi đứng giữa hai kẻ xấu mà phải chọn một, phải chọn kẻ xấu ít. Giữa Pháp với Việt Minh cộng sản, các vị đành tựa vào Pháp, tức là kẻ xấu ít, để diệt Việt Minh cộng sản là kẻ xấu nhiều, về sau sẽ tương kế tựu kế đẩy Pháp ra khỏi Việt Nam.” Riêng “bản thân Tôi,” Tôi cám ơn nhận định và hành động của quí vị ấy, vì từ đó mà Tôi có mặt trên cõi đời này.


Trong khi trên chiến trường, hoạt động quân sự của Việt minh cộng sản, với sự yểm trợ tối đa của Trung Hoa cộng sản, làm cho bộ tư lệnh viễn chinh Pháp ngày càng bối rối bởi những trận đánh với cấp bộ đại đoàn, một loại đơn vị chiến thuật trên cấp trung đoàn nhưng dưới cấp sư đoàn. Một căn cứ kiên cố bậc nhất của Pháp tại chiến trường Ðông Dương với hơn 12.000 quân trú phòng, được xây dựng trong vùng lòng chảo Ðiện Biên Phủ, gần biên giới Lào. Mục tiêu là nhử các đơn vị lớn của Việt minh cộng sản đến để Pháp dùng hỏa lực pháo binh và không quân tiêu diệt. Nhưng, sau 3 tháng đánh nhau dữ dội với những tổn thất nặng nề cho cả hai bên, ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân trú phòng Pháp đã đầu hàng. Và sự kiện này đã dẫn đến Hiệp Ðịnh đình chiến ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ.


Hiệp định đó không có chữ ký của Việt Nam và Hoa Kỳ. Lúc bấy giờ, dưới Quốc Trưởng Bảo Ðại có chánh phủ do Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm lãnh đạo. Biết bao vấn đề khó khăn khi đất nước chỉ còn lại từ vĩ tuyến 17 trở xuống, trong đó công tác định cư cho gần một triệu đồng bào miền Bắc chạy nạn cộng sản vào Nam, là một trong những mục tiêu lớn của chánh phủ mới nhận trách nhiệm (7/7/1954) hai tuần lễ trước ngày ký Hiệp Ðịnh Genève.


Về phần Tôi. “Cơ thể Tôi” vào cuối giai đoạn 1950-1954, được xem là giai đoạn hình thành, có đến 200,000 tế bào – xin hiểu mỗi tế bào là một quân nhân – nhưng Tôi hãy còn là “một thiếu nhi” cả về tổ chức, trang bị, nhất là về mặt chỉ huy và chiến đấu. Có thể vì vậy mà anh bạn Hoa Kỳ nhận giúp gia tăng dinh dưỡng cho Tôi sớm trưởng thành các mặt, để Tôi đủ khả năng bảo vệ quốc gia trước khi thằng thanh niên cộng sản miền Bắc tràn xuống tấn công, trong mục tiêu chiến lược của cộng sản thế giới là biến các quốc gia vùng Ðông Nam Á Châu trở thành cộng sản, mà bước đầu là nó cướp nhà Tôi – tức Quốc Gia Việt Nam- Tôi nói “có thể,” chớ nói cho đúng là anh bạn Hoa Kỳ nhắm vào mục tiêu chiến lược của anh ta. Giúp Tôi ngăn chận “thằng thanh niên” miền bắc, con bài chủ lực của gia đình nó có cái tên là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa,” cũng có nghĩa là Tôi giúp anh bạn Hoa Kỳ ngăn chận “ nó với anh em bạn bè nhà nó tràn xuống chiếm nhà Tôi và nhà của bạn bè hàng xóm Tôi” nữa. Bởi vì “các nhà hàng xóm” của Tôi – tức Thái Lan, Singapore, Phi Luật Tân – cũng là bạn bè thân thiết của anh bạn Mỹ vừa giàu vừa mạnh, nên đứng ra làm anh hùng giúp đỡ những bạn vừa nghèo vừa yếu. Cái hào hiệp của anh bạn Mỹ cũng nhằm tìm kiếm thế lực chung quanh đấy thôi. Ðiều đó có nghĩa là anh bạn Hoa Kỳ không phải hoàn toàn chỉ vì Tôi mà giúp Tôi đâu nhé. “Có qua có lại” mà.


Dưới đây là những “cơ bắp chánh” của Tôi, mà quí bạn là những thành viên trong đó:


Lục Quân, có: Hai trường đào tạo sĩ quan và một trung tâm huấn luyện đào tạo chiến binh. 67 tiểu đoàn Bộ Binh. 1 liên đoàn Nhẩy Dù gồm 5 tiểu đoàn. 1 trung đoàn Thiết Giáp. 5 tiểu đoàn Pháo Binh. 6 đại đội Truyền Tin. 6 đại đội Công Binh. Và 6 đại đội Quân Vận.


Không Quân, là một trong ba hệ cơ bắp quan trọng nhất của Tôi, nhưng lớn hơn Tôi 1 tuổi. Trong quân chủng này “2 Phi Ðoàn Quan Sát Trợ Chiến” trang bị phi cơ Morane. Ngay trước cuối năm 1954, nhận thêm 39 phi cơ quan sát và phi cơ vận tải do Mỹ viện trợ ngang qua trung gian của Pháp.


Hải Quân. Cũng là một hệ cơ bắp quan trọng khác của cơ thể Tôi. Lớn hơn Tôi 2 tháng tuổi. Quân chủng này có “3 Hải Ðoàn Xung Phong” trang bị loại giang đỉnh LCM và LCVP. Ngoài ra còn có 3 Liên Ðoàn Tuần Giang và một lực lượng com-măng-đô. Tuy không thuộc hải quân, nhưng khi chuyển vào Nam thì sáp nhập vào một tổ chức có tên là “Hải Quân Bộ Binh.” Binh chủng này là tiền thân của “Thủy Quân Lục Chiến,” chào đời đầu tháng 5 năm 1955.


 


1955-1967, giai đoạn phát triển


 


Hạ tuần tháng 10 năm 1955, sau cuộc trưng cầu ý dân với kết quả Quốc Trưởng Bảo Ðại bị truất phế, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm tuyên bố “Việt Nam là một nước Cộng Hòa,” gọi ngắn gọn là “Việt Nam Cộng Hòa” và ông trở thành Tổng Thống. Cũng từ đây, khai sanh của tôi ghi là “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa.”


Một kế hoạch giúp Tôi phát triển từ những cơ bắp nhỏ, rời rạc, trở thành những đơn vị trong một hệ thống tổ chức lớn hơn, chặt chẽ hơn, thống nhất trang bị, thống nhất chỉ huy, thống nhất huấn luyện. Tuy đã đình chiến, nhưng mãi đến đầu tháng 7 năm 1955, “cái đầu” Tôi mới được phép điều khiển toàn bộ các cơ bắp của mình, tức Bộ Tổng Tham Mưu chỉ huy toàn thể quân đội.


Tháng 3 năm 1956, khi người lính viễn chinh cuối cùng của Pháp rời khỏi Việt Nam, Bộ Tổng Tham Mưu dọn đến ngôi nhà bề thế hơn, khang trang hơn, tọa lạc gần cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất. Trước mặt là đường Võ Tánh nối dài, sau lưng là đường Võ Di Nguy. Trước cửa nhà Tôi có tấm bảng thật lớn, với dòng chữ “trại Trần Hưng Ðạo,” tức Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa.


Vậy là, trang sử nước Việt Nam thuộc địa của Pháp, được khép lại từ đây.


Vào cuối năm 1967, con người Tôi gồm cái đầu -tức Bộ Tổng Tham Mưu – hệ thần kinh chính – tức Bộ Tư Lệnh Quân Khu – và tứ chi – tức các đại đơn vị – phát triển gần như hoàn chỉnh, và được trông thấy như sau:      


Lục Quân. Vào năm 1956 có 4 Sư Ðoàn Dã Chiến và 6 Sư Ðoàn Khinh Chiến. Ðến cuối năm 1959, 10 Sư Ðoàn này tổ chức lại thành 7 Sư Ðoàn Bộ Binh với quân số mỗi sư đoàn là 10.500 người, nhiều gần bằng 2 lần quân số sư đoàn khinh chiến. Trong tổ chức cơ hữu của mỗi Sư Ðoàn, đều có các đơn vị Công Binh, Pháo Binh, Thiết Giáp. Những năm sau đó, thành lập thêm 3 Sư Ðoàn Bộ Binh là; Sư Ðoàn 9, Sư Ðoàn 18, và Sư Ðoàn 25. Cộng chung là 10 sư đoàn. Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I, II, III, và IV, lần lượt chào đời sau các Sư Ðoàn, trách nhiệm an ninh toàn lãnh thổ. Vào cuối giai đoạn 1955-1967, Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến được phát triển lên cấp Sư Ðoàn. Binh chủng Biệt Ðộng Quân thành lập năm 1960 với cấp Ðại Ðội, đã phát triển lên cấp Tiểu Ðoàn. Binh chủng Lực Lượng Ðặc Biệt cũng được thành lập những năm cuối giai đoạn, để hoạt động dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt, Việt Nam-Lào. Binh chủng Thiết Giáp có 4 Trung Ðoàn Kỵ Binh biệt lập, trang bị Thiết Vận Xa M113, M114, và chiến xa M41. Trong khi binh chủng Pháo Binh có 11 tiểu đoàn 105 ly và 1 tiểu đoàn 155 ly biệt lập.


Không Quân. Ðến năm 1958, có 3 Căn Cứ Trợ Lực Không Quân tại Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, và Nha Trang, với 7 Phi Ðoàn gồm; khu trục, liên lạc, vận tải, trực thăng, và phi đoàn đặc vụ. Ðến cuối năm 1964, nhận khá nhiều phi cơ khu trục AD6, trực thăng H34, và các loại khác. Trong khi các đơn vị tác chiến và yểm trợ tác chiến, phát triển lên cấp Không Ðoàn tại mỗi Vùng lãnh thổ quân sự, với phiên hiệu các Không Ðoàn như sau: Không Ðoàn 41 tại Ðà Nẵng. Không Ðoàn 62 tại Plei Ku. Không Ðoàn 23 tại Biên Hòa. Không Ðoàn 33 tại Tân Sơn Nhất. Và Không Ðoàn 74 tại Cần Thơ.


Năm cuối của giai đoạn tức năm 1967, Không Quân có 1 phi đoàn khu trục được trang bị phản lực cơ F5. Phiên hiệu của các đơn vị xếp thành 3 số. Theo đó, số hàng trăm để chỉ công dụng của đơn vị, như: Số 1 là phi đoàn liên lạc, số 2 là trực thăng, số 3 là đặc vụ, số 4 là vận tải, số 5 là khu trục, số 7 là quan sát, số 8 là hỏa long, và số 9 là huấn luyện. (không thấy nói đến số 6)


Hải Quân. Năm 1955, quân chủng này có một lực lượng tác chiến với 24 chiến hạm, hơn 110 chiến đỉnh, trong tổ chức 5 Hải Ðoàn, và 1 Hải Lực. Năm 1959, Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến tách ra khỏi Hải Quân và trở thành lực lượng tổng trừ bị. Từ năm 1956 đến 1967, đã tiếp nhận viện trợ từ Hoa Kỳ gồm 40 chiến hạm, và 193 chiến đỉnh.


Vào cuối giai đoạn 1955-1967, Tôi trở thành một thanh niên với đầy đủ cơ cấu một con người. Hệ thần kinh đã phát triển. Vũ khí trong tay tôi, phần lớn sản xuất từ đệ nhị thế chiến, chỉ một vài loại được xem là mới. Nửa đầu năm 1964, “ba má Tôi” tức Trung Tướng Nguyễn Khánh với chức năng Quốc Trưởng kiêm Thủ Tướng, và Trung Tướng Trần Thiện Khiêm với chức Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Lực, đã lên án thế vì khai sanh, sửa tên tôi một chữ, thành “Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.” Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, gồm: Hải Quân, Lục Quân, Không Quân, và Ðịa Phương Quân & Nghĩa Quân.


Tôi đã đánh nhau nhiều lần với thằng thanh niên miền Bắc có cái tên “quân đội nhân dân.” Cha hắn biết hành động lén đẩy hắn vào “nhà Tôi” tức Việt Nam Cộng Hòa để đánh cướp là vi phạm Hiệp Ðịnh đình chiến, nên cha hắn “may cho hắn một cái áo” ở tiệm may vùng biên giới Việt Nam-Cam Bốt hồi cuối năm 1960. Cái áo có dòng chữ “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam.” Hắn vội vàng trùm cái áo đó lên người rồi gây sự tùm lum, làm cho một số nhân vật ngoại quốc vì quyền lợi riêng tư mà có thiện cảm với cộng sản, cho là anh em Tôi trong nhà đánh nhau. Nhưng vải áo của hắn là loại vải thưa, nên nhiều nhân vật khác đều thấy và biết rõ hắn là “quân đội nhân dân” từ miền Bắc xâm nhập vào đánh chiếm ngôi nhà của tổ tiên Tôi, mà Tôi và bà con họ hàng Tôi có trách nhiệm gìn giữ. Do đó mà các anh bạn hàng xóm là Hoa Kỳ, Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Tây Lan, có cả anh bạn Trung Hoa Dân Quốc nữa, cùng đến tiếp tay ngăn chận không cho hắn cướp nhà Tôi.


 


1968-1975, giai đoạn phát triển cao điểm


 


Mở đầu giai đoạn này là tên thanh niên miền Bắc đánh lén Tôi ngay trong đêm 30 Tết Mậu Thân đầu năm 1968. Tuy hắn được ông nội hắn là Liên Bang Xô Viết và ông ngoại hắn là Trung Hoa cộng sản cung cấp vũ khí mới, nhưng hắn đã bị Tôi đánh trả quyết liệt làm hắn lảo đảo lủi chạy về rừng và nằm liệt cả năm mới hoàn hồn.


Vì hắn có vũ khí mới nên anh bạn Mỹ đồng ý cung cấp cho Tôi những vũ khí thuộc thế hệ mới, gọi là “chương trình tối tân hóa quân dụng.” Ðầu tiên là lực lượng tổng trừ bị, dần dần đến toàn bộ chủ lực quân. Chương trình trang bị diễn tiến tốt đẹp, và Tôi đánh thằng thanh niên miền Bắc ngất ngư trong trận chiến mùa hè năm 1972 mà báo chí gọi là “mùa hè đỏ lửa.” Nhưng, đùng một cái, nhà anh bạn Mỹ có phong trào phản chiến mạnh, làm lung lay chiếc ghế của Ba anh ta -tức Tổng Thống Hoa Kỳ- nên anh ta phải rút về nước dưới một văn kiện quốc tế nghe rất lịch sự ký tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, và một văn kiện quốc nội nghe rất chối tai là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh.”


Tại sao là “Việt Nam Hóa Chiến Tranh?” Chính Tôi đã đánh nhau với thằng “thanh niên miền Bắc” ngay từ hiệp định đình chiến Genève năm 1954 mà. Tuy là đình chiến, nhưng cha mẹ ông bà nhà nó -khi kéo nhau ra Bắc- đã giấu nó lại trong đất nhà Tôi, và nó cứ đập phá nhà cửa Tôi, bắt giết dòng họ Tôi nên Tôi phải đánh trả nó chớ có phải Tôi qua nhà nó -trên đất Bắc- gây sự với nó đâu. Khi nó được dòng họ nội ngoại chú bác nhà nó, tức Nga Sô, Trung quốc, và các nước cộng sản Ðông Âu, giúp nó ăn cướp nhà Tôi, các bạn xa xôi đến tiếp tay với Tôi chớ đâu phải thay Tôi để đánh nó. Rõ ràng là Tôi vẫn đánh với nó. Các bạn ấy cũng đánh nó. Cho nên tức không chịu được! Nhưng nhìn lại mình, nhất là nhìn lại “cha mẹ tôi” -tức Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Ðại Tướng Cao Văn Viên- không thấy lên tiếng cãi lý gì với anh bạn chơi trội kiểu ấy. Ðành vậy thôi, nhưng tức vẫn tức!


Khi rời Việt Nam, anh bạn Mỹ để lại cho Tôi hầu hết các loại dụng cụ chiến tranh mà anh ta đang sử dụng, vì chuyên chở về bên kia bờ Thái Bình Dương tính ra phí tổn có thể cao hơn trị giá số lượng quân dụng đó, với lại nó cũng thuộc vào “hàng đã dùng rồi” chớ có mới mẻ gì đâu. Vì vậy, trong cách nhìn nào đó, chương trình tối tân hóa quân dụng cho Tôi, chưa chắc bạn Tôi là người hoàn toàn tốt với Tôi đâu. Nhưng dù sao thì Tôi cũng phải “phát triển một cách thần tốc” để có khả năng lấp vào khoảng trống mà các bạn đó về nước, bằng cách gia tăng thêm quân số, đẩy mạnh huấn luyện, tổ chức thêm các đơn vị, để kịp tiếp nhận dụng cụ trang bị. Trọng tâm là phát triển Hải Quân và Không Quân, kế đến là Pháo Binh và Thiết Giáp.


Tính đến đầu năm 1975, con người Tôi như dưới đây:


Cơ quan trung ương. Bộ Tổng Tham Mưu với đầy đủ các cơ quan, binh chủng, và binh sở trong hệ thống quản trị hành chánh, nhân viên, huấn luyện, chiến tranh chính trị, tiếp vận. Riêng ngành Tiếp Vận có khả năng sửa chữa và tân trang toàn bộ quân dụng chung do Lục Quân Công Xưởng cùng với các Căn Cứ Quân Nhu, Công Binh, Ðạn Dược, Truyền Tin, Tồn Trữ Sửa Chữa Dù, và các Trung Tâm Bảo Toàn quân dụng trách nhiệm. Quân dụng chung, là những loại quân dụng trang bị cho Lục Quân nhưng Hải Quân và Không Quân có sử dụng.


Lục Quân. Cơ quan chỉ huy, tác chiến, và yểm trợ tác chiến, có: 4 Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn và các đơn vị yểm trợ trực thuộc. 11 Sư Ðoàn Bộ Binh, kể cả Sư Ðoàn 3 Bộ Binh thành lập tháng 10 năm 1971. 1 Sư Ðoàn Nhẩy Dù. 1 Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến. 1 Liên Ðoàn Biệt Cách Dù. Hơn 20 Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân. 4 Lữ Ðoàn Kỵ Binh Thiết Giáp. Lực Lượng Lôi Hổ và Biệt Hải. Các đơn vị Pháo Binh và Phòng Không. Và lực lượng Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân chiếm khoảng 500.000, tức một nửa quân số. Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân được thành lập gấp rút để phòng thủ Phú Lâm, cửa ngõ vào thủ đô Sài Gòn từ hướng tây nam.


Không Quân, với quân số hơn 60,000, tổ chức tổng quát gồm: 1 Bộ Tư Lệnh Quân Chủng với đầy đủ các cơ quan chuyên môn và binh sở yểm trợ. 5 Sư Ðoàn tác chiến. 1 Sư Ðoàn vận tải. Và 1 Không Ðoàn Tân Trang Chế Tạo. Chỉ trong năm 1973, tiếp nhận hơn 900 phi cơ, gồm: 560 trực thăng, 230 khu trục, 100 vận tải, và các loại khác. Trong tổ chức 6 Sư đoàn không quân, có số lượng các phi đoàn như sau: 20 phi đoàn khu trục trang bị khoảng 550 phi cơ. 23 phi đoàn trực thăng trang bị khoảng 1000 phi cơ. 8 phi đoàn quan sát trang bị khoảng 200 phi cơ. 9 phi đoàn vận tải trang bị khoảng 150 phi cơ. Và 4 phi đoàn hỏa long trang bị phi cơ AC119 nhưng không rõ số lượng. Ngoài ra còn có các Phi Ðoàn đặc biệt khác.


Hải Quân. Cùng nhịp phát triển với quân chủng Lục Quân và Không Quân, đầu năm 1969, Hải Quân tiếp nhận tàu chiến từ 5 Giang Ðoàn của Hải Quân Hoa Kỳ. Với quân số hơn 40.000, ngoài các đơn vị yểm trợ hành chánh, nhân viên, huấn luyện, tiếp vận, và Hải Quân Công Xưởng, Hải Quân tổ chức 3 lực lượng tác chiến, là; Hành Quân Lưu Ðộng Sông với 14 Giang Ðoàn trang bị khoảng 260 chiến đỉnh. Hành Quân Lưu Ðộng biển với 1 Hạm Ðội trang bị tuần dương hạm, hộ tống hạm, khu trục hạm, tuần duyên hạm, giang pháo hạm, trợ chiến hạm, dương vận hạm, hải vận hạm, và giang vận hạm. Các Lực Lượng Ðặc Nhiệm 211 Thủy Bộ với 6 Giang Ðoàn, 212 Tuần Thám với 12 Giang Ðoàn, 214 Trung Ương với 6 Giang Ðoàn, và Liên Ðoàn Người Nhái. Trong tài liệu không thấy nói đến Lực Lượng Ðặc Nhiệm 213 mà trong thực tế dường như có đơn vị này.


***


Thưa quí bạn, những tế bào đã tạo nên Tôi.


Tôi không tin định mệnh, nhưng nếu có định mệnh thì phải chăng định mệnh đã đưa kẻ thù của dân tộc đến trước mặt Tôi?


Ðó là lúc quân đội cộng sản bao quanh thủ đô Sài Gòn. Nó là “một thanh niên” lớn hơn Tôi 7 tuổi, vì quân đội cộng sản thành lập năm 1945. Hắn được lãnh đạo bởi ông Hồ Chí Minh, một người mà khi sống trên đất Pháp và đất Nga, đã cố tình thay đổi hệ thần kinh với những “gen” hiền hòa đạo nghĩa của dân tộc Việt trong đầu ông ta, bằng hệ thần kinh với những “gen” tàn bạo thời Mông Cổ xâm lăng cai trị một phần Âu Á, cộng với “gen” độc tài sắt máu của Liên Xô nhất là thời Stalin. Ngôn từ chính trị ngày nay gọi đó là bản chất độc tài, tàn bạo, và dối trá. Dưới người đó là một nhóm thuộc hạ tức bộ chính trị cộng sản, thực hiện bản chất của ông ta, bản chất độc tài, và luôn luôn dối trá ngay cả bản thân họ, thì đâu có ai dưới quyền họ mà tránh được. Vì vậy mà nó bị ngập chìm trong bản chất lừa dối một cách tinh vi của nhóm người kia, để nó tưởng nó là anh hùng cứu nước cứu dân và nó trở nên hung hăng khát máu.


Nó sẵn sàng đánh Tôi ngay trong gian nhà chánh của Tôi, tức thủ đô Sài Gòn. Tôi đã sẵn sàng đánh lại nó. Những cơ bắp có trách nhiệm cung cấp thức ăn nước uống với súng đạn cho Tôi, tức ngành Tiếp Vận đã dự trữ trong thủ đô và vùng đồng bằng Cửu Long, đủ cho Tôi đánh với nó sau 30 ngày mới cần tiếp tế. Tôi nghĩ là rất có thể có nhiều bạn chưa rõ lắm về sức mạnh của Tôi lúc bấy giờ. Xin thưa rằng, Tôi có đến : Hơn 2 triệu cánh tay, tức hơn 1 triệu quân. Gần 2 triệu khẩu súng cầm tay. 1,200 xe chạy xích kể cả chiến xa M48. Hơn 1,000 khẩu đại bác từ 105 và 155 ly xe kéo đến đại bác 175 ly cơ động. 40.000 xe chạy bánh. 1.600 chiến hạm chiến đỉnh. Và hơn 2.000 phi cơ các loại từ cánh quạt, trực thăng, đến phản lực.


Tôi có một hệ thống quân trường, đào tạo từ anh chiến binh đến vị lãnh đạo chỉ huy cấp Sư Ðoàn Quân Ðoàn, chuyên viên các ngành chuyên môn, và toàn bộ sĩ quan tham mưu. Tôi có 1 trung tâm điện toán quản trị con người, 3 trung tâm điện toán quản trị quân dụng, và 1 trung tâm điện toán quản trị tài chánh. Tôi có một hệ thống quân y từ Trung Ương đến tận cấp Quận với nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe toàn cơ thể Tôi.


Tôi đã đánh và đánh thắng nó nhiều trận lừng danh, đặc biệt là Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972.


Vậy mà bây giờ, tôi không được đánh nó, vì “cha mẹ cũ” của Tôi là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Ðại Tướng Cao Văn Viên đã cao bay xa chạy rồi, đến “cha mới” của Tôi là Tổng Thống Dương Văn Minh, đã ra lệnh trên hệ thống truyền thanh bảo Tôi:


Không được đánh nó! Phải buông súng xuống! Và giao súng cho nó!


Quí bạn nghĩ xem, còn nỗi đau nào cao hơn nỗi đau của Tôi nữa đây! Và nỗi đau này đã chồng lên nỗi đau đang day dứt, bởi một phần hệ thần kinh của Tôi -tức những vị lãnh đạo có quân có quyền trong tay- đã bỏ lại hằng chục ngàn, hằng trăm ngàn, thậm chí hằng triệu tế bào để chạy khỏi quê hương trước khi nó đến. Chắc quí bạn không ai là không nhớ rằng, một số thần kinh chính -tức 5 vị Tướng và hằng trăm sĩ quan các cấp trong nhóm hệ thần kinh còn lại của Tôi – đã tuẫn tiết, làm cho Tôi vô cùng ngưỡng mộ và cảm phục. Chính nhờ lòng dũng cảm cao cả đó, giúp Tôi khôi phục được lòng hãnh diện của mình đối với những anh bạn đã một thời giúp Tôi ngăn chận kẻ cướp. Tôi không hổ thẹn với tổ tiên, không hổ thẹn với hồn thiêng sông núi Việt Nam, và nhất là không hổ thẹn với tất cả những tế bào của Tôi đã hi sinh đến giây phút cuối cùng trên khắp các trận tuyến, từ quân sự, chính trị, đến kinh tế, văn hóa xã hội! Nếu không, Tôi sẽ tủi nhục biết dường nào! Và hành động đó, tiếp tục soi sáng thêm dòng lịch sử oai hùng của tổ quốc, tiếp tục nâng cao thêm tinh thần bất khuất của những anh hùng dân tộc “thành mất chết theo thành.” Ðó, chính là ánh sáng của chính nghĩa quốc gia dân tộc mà chiến sĩ và toàn dân đã dốc lòng phụng sự, và sẽ không bao giờ ngưng nghỉ nếu như dân tộc Việt Nam chưa được sống trong một xã hội dân chủ pháp trị theo nguyện vọng toàn dân.


Tôi là một thanh niên 23 tuổi, nhưng Tôi có một sức mạnh phi thường, một tinh thần chiến đấu dũng cảm mà lâu nay, thằng thanh niên miền Bắc – tức quân đội cộng sản- rất ngại đánh nhau với Tôi, trong khi nó sẵn sàng chấp nhận đánh nhau với anh bạn Mỹ cho dù anh bạn Mỹ rất mạnh về hỏa lực, “chỉ vì anh bạn Mỹ hiểu nó không bằng tôi hiểu nó.” Nhưng mà, lệnh là lệnh!


Lệnh bắt Tôi phải buông súng!


Lệnh bắt Tôi phải giao súng cho nó, mà nó là kẻ thù của dân tộc!


Ôi!… Vậy là, Tôi bị bức tử rồi các bạn ơi!


Tôi chết, nhưng những tế bào của Tôi không thể chết.


Trước khi nhắm mắt lìa đời, Tôi gởi lại lời trăng trối: “Thứ nhất. Các bạn hãy cùng nhau góp sức hỗ trợ công cuộc dân chủ hóa Việt Nam, để huy động toàn lực xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do, một dân tộc ấm no hạnh phúc đúng với nguyện vọng người dân.Thứ hai. Tôi muốn những tế bào của Tôi không hành động trả thù kẻ địch, vì cuối cùng, tất cả chúng ta đều là người Việt Nam.Nhưng đối với tất cả thành viên Bộ Chính Trị CSVN từ khóa I đến khóa đương nhiệm phải truy tố họ ra tòa, vì họ là những người có toàn quyền hoạch định và điều khiển thực hiện chính sách độc tài tàn bạo, đẩy dân tộc vào thảm cảnh tàn khốc trong nửa cuối thế kỷ 20 mà đến nay vẫn còn tiếp tục…”


Chúc quí bạn an lành, thực hiện tròn vẹn bổn phận những Công Dân Việt Nam Cộng Hòa. Tôi sẽ theo dõi và soi sáng… cho quí bạn.


Vĩnh… b.. i.. ệ… t….!!!


Houston, tháng 6 năm 2004.


Duyệt lại ngày 15 tháng 4, 2012

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT