Tạp Ghi Quỳnh Giao
Có bao giờ chúng ta tưởng tượng ra một buổi trình diễn văn nghệ trong cảnh tao loạn của Hà Nội năm xưa? Buổi trình diễn bất đắc dĩ theo lời đòi hỏi đầy uy hiếp của khán giả, với khẩu súng bắn chỉ thiên lên trần nhà.
Nghệ sĩ trình diễn là một ban nhạc thính phòng loại tứ tấu gồm có bốn nhạc cụ. Dưới áp lực của đám khán giả hung hăng, đám “Kiêu Binh Tân Chiến Quốc,” các nhạc sĩ đã phải trình tấu và tạo ra phép lạ.
Người kể lại câu chuyện có thật này là Ðinh Hùng!
Thời điểm là Mùa Thu Hà Nội năm 1946, khi lính Pháp trong lực lượng Ðồng Minh trở lại giải giới quân đội Phù Tang và chiếm đóng một số vị trí chiến lược ở miền Bắc. Ðịa điểm là “Quán Nghệ Sĩ” tại góc Bắc của hồ Hoàn Kiếm, nơi họp mặt của “bọn người viết, vẽ, hoặc đàn, hát…” Vì quán bán những thứ hàng quá đắt, khách phần đông là người ngoại quốc, chứ nghệ sĩ cũng ít có tiền vào.
Thời ấy, Hà Nội sắp có chiến tranh, không khí bức bí nghẹt thở, nhưng tối đó Quán Nghệ Sĩ lại có phụ diễn văn nghệ. May mắn cho chúng ta, tối đó lại có Ðinh Hùng, người không quên tuổi hoa niên của mình ở Hà Nội nên hai chục năm sau vẫn còn nhớ và viết lại từ Sàigòn.
Ban nhạc gồm có một cây hồ cầm của ông Giệp. Có ông Hiếu chơi dương cầm, có một tài tử trung hồ cầm mà tác giả quên mất tên. Và cây cổ thụ của làng tân nhạc cải cách Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Ông ôm cây đại hồ cầm (contrebasse) mà anh em nghệ sĩ vẫn gọi đùa là “Ngưu Cầm” hoặc nôm na hơn cả là “đàn bò.” Lũ con nít ngấp nghé ngoài cửa nhìn “cái đàn gì mà to như cả một cái gác-măng-dê,” là cái garde manger, chạn bằng tiếng Pháp.
Không khí u uẩn khiến các nhạc sĩ vừa dạo xong một cầm-tấu-khúc mở màn là hết hứng.
Họ ngồi quây chung quanh một cái bàn nhỏ góc trong cùng và lặng lẽ nhìn nhau. Ðấy là lúc ác quỷ xuất hiện! Ðó là bốn tên lính Lê Dương trong toán quân viễn chinh của Tướng Morlière, với bốn bộ mặt đỏ gay như mặt trời xích đạo. Ðinh Hùng kể lại rằng bọn khách hàng võ biền đó bước vào quán với cái thế của một toán quân vừa đột nhập vào một đồn lẻ, không để uống nước hoặc nghe nhạc mà có lẽ chỉ để gây sự, phá phách.
Mà họ phá thật. Ðinh Hùng viết lại thái độ và ngôn ngữ của bốn tên kính Lê Dương, có lẽ là gốc Ðức, hậu sinh của những nhạc sĩ như Bach, Beethoven, Schumann, những Schiller hay Goethe mà trở thành “tẩy say.” Tây say mà không biết là say nên mãi gân cổ gọi rượu mạnh và mở tủ lấy luôn chai rượu mà tu ừng ực.
Cho đến khi Nguyễn Xuân Khoát khó chịu dằn cốc cà phê xuống bàn, tay chạm vào dây đàn “contrebasse” làm nẩy lên một âm thanh u trầm.
Bốn tên khách quý của quỷ đang ông ổng ca hát trong hơi men bỗng dừng lại. Họ đồng thanh la to: Âm nhạc! Chơi nhạc đi. Họ rút súng hăm dọa vẻ ngần ngại của các nhạc sĩ. Một tên ôm lấy cây đại hồ cầm mà đặt ngang vào hai tay Nguyễn Xuân Khoát, tên khác thì nện bàn tay lông lá trên phím dương cầm. Tên thứ ba thì nhấc bổng cả nhạc sĩ dương cầm đang ngồi trên ghế đẩy tới trước cây đàn và gào to: Im lặng! Ðây là bản Hợp Tấu của Im Lặng!
Rồi rút súng bắn loạn lên trần, làm cây đèn lớn vỡ tung từng mảnh, tắt phụt.
Chúng ta đừng quên rằng năm đó Ðinh Hùng mới 26 tuổi và Nguyễn Xuân Khoát ở tuổi 36.
Ông kể tiếp trong cuốn “Ðốt Lò Hương Cũ” rằng sau vài giây choáng váng, Nguyễn Xuân Khoát điềm nhiên mở tập nhạc chọn ra một bài để trên giá đàn dương cầm và hất hàm cho ba nhạc sĩ kia. Họ liếc nhìn qua bản nhạc và những ngón tay bắt đầu lướt trên cung bậc.
Khi nhà thơ Ðinh Hùng của chúng ta cầm bút viết lại về một khúc nhạc thì những người chơi nhạc phải bái phục. Ðó là cảm nghĩ của người viết bài tạp ghi này. Ngôn ngữ của chúng ta thật ra thiếu chữ diễn tả về nhạc, về họa, Ðinh Hùng thì có thừa. Hai trang giấy về nhạc khúc này là một sự kỳ thú cho chúng ta. Nhưng câu chuyện không dừng ở đó.
Bản nhạc đã dứt mà năm phút sau mọi người vẫn còn im lặng.
Rồi bốn người lính Ðức từ tốn và trịnh trọng đứng dậy. Họ trịnh trọng giơ tay chào theo kiểu nhà binh và lịch sự, đến lễ độ là khác, rút lui khỏi quán sau khi chu đáo thanh toán tiền hàng lẫn tiền chiếc bóng đèn điện bị bắn vỡ, và thưởng tiền cho bồi bàn rất trọng hậu. Nguyễn Xuân Khoát thở phào một hơi, khép lại bản nhạc vừa dạo.
Ðinh Hùng để đến phút cuối mới cho biết rằng đó là bản “Danses Macabres” của Camille Saint-Saens. Ông còn cước chú ở cuối trang về tác phẩm này! Kiến thức người xưa khác người nay…
Ba trang sau cùng, ông viết về Nguyễn Xuân Khoát ở miền Bắc với sự kính trọng và luyến tiếc các nghệ sĩ đã phải ép mình trong khuôn khổ tù túng của một cuộc sống giả tạo. “Chín năm đốt đuốc soi rừng” bỗng tắt lịm trong Nhân Văn Giai Phẩm!
Hơn 60 năm sau vụ hòa nhạc bất đắc dĩ cho lính Lê Dương mà Ðinh Hùng kể lại, chúng ta đã có thể nhớ tới “Danses Macabres” trong những buổi tối Halloween tại Mỹ! Hoặc nếu có tò mò gõ trên YouTube thì nghe lại dễ dàng.
Thần Chết hiện về trong một vũ khúc ma quái, được diễn tả bằng nhạc. Mở đầu là 12 tiếng đàn thánh thót của chuông đồng hồ lúc nửa đêm và kết thúc khi bình minh ló dạng, ma quỷ gì đều lặn hết! Ở giữa là tiếng lách cách của những bộ xương khô.
Sau khi ngợi ca tiếng đại hồ cầm của Nguyễn Xuân Khoát, Ðinh Hùng kết luận: âm điệu mê hoặc của “Vũ Khúc Ma Quái” đã có hiệu lực chiêu dụ và trấn áp được tà ma. Và đưa Hồn Người trở về hào quang của Cái Ðẹp.
Có khi nào mà lũ hậu sinh chúng ta lại biết và viết nổi về những giai thoại như vậy chăng? Có khi nào mà người Pháp năm xưa, hay người Tầu bây giờ, có thể cảm được cái dũng và cái tài của những nghệ sĩ đã dùng nhạc đuổi giặc không? Chúng ta biết nói gì để tạ ơn những người như thế?
Kỷ niệm của người viết với Ðinh Hùng chỉ là một thoáng mơ phai thời con nít.
Năm đó, hình như là năm 1960, người viết mới mười bốn tuổi. Gia cảnh cũng sa sút từ khi mất căn nhà mà gia đình dành dụm mua được ở đường Ngô Thời Nhiệm sau lưng trường Marie Curie, vì người bán lại chỉ là người thuê. Lừa gạt xong thì cao chạy xa bay! Buổi sáng dọn nhà vào, thì buổi chiều người chủ nhà thực sự đến đòi lại nhà. Sáu tháng sau dọn vào khu nhà ở hẻm Phan Ðình Phùng, còn được gọi là khu “Vườn Chuối.” Trong khung cảnh đạm bạc, thân mẫu mở cửa đón nhận nhà thơ lúc nào cũng ăn mặc thật đàng hoàng. “Thưa chị, cuối năm là tôi xin đến trả chứ không kéo nợ qua năm!” Tối hôm ấy là tối ba mươi Tết, mẹ tôi đang sửa soạn bàn thờ gia tiên. Nhìn cách ăn mặc trau chuốt, và mùi nước hoa thơm lựng của khách, nhưng con bé đứng bên mẹ cũng biết rằng có những nghệ sĩ còn nghèo hơn mình.
Sau này, đọc lại thì mới thấy là Ðinh Hùng giàu gấp bội và để lại một di sản quý báu cho chúng ta.

















































































