Vu Lan, Mẹ và các anh em tôi

 


Việt Nguyên
Bút ký mùa Vu Lan


 


LTS: Từ Bàn Viết Houston là cột mục bàn về các vấn đề thời sự từ chính trị tới kinh tế, văn hóa… do nhà báo Việt Nguyên trong ban biên tập Ngày Nay phụ trách. Ông cũng là một bác sĩ làm việc tại Houston.


 


***


 


Một mùa Vu Lan lại đến. Với tôi, Vu Lan là “Ngày Mẹ” chứ không phải là ngày Mother’s day ồn ào có tính cách thương mại. Vu Lan với trăng rằm Tháng Bảy, với mùa báo hiếu, với những bông hồng đỏ thắm của những ngày còn mẹ và mùi hương thoang thoảng của những bông hồng trắng ngày mẹ đã mất. Vu Lan với ánh trăng rằm dịu dàng đi theo tôi từ ngày còn nhỏ theo mẹ lên chùa. Vu Lan với ánh trăng bàng bạc không đổi, dù con người đã đặt chân lên cung Hằng thám hiểm nhưng ánh trăng rằm Tháng Bảy vẫn nhiệm màu. Vu Lan, một lần tôi đã ngước nhìn lên bầu trời trong đầy trăng sao và ước được cắt một khoảng trời trong đó có những hình ảnh của cha mẹ tôi và những người thân đã mất cất vào trong khung kỷ niệm.


Vầng trăng Tháng Bảy đã theo tôi suốt con đường lên chùa Phật Quang nơi cha mẹ tôi nằm nghỉ trong nhiều năm qua không khác vầng trăng đã theo tôi ở quê nhà trong nhiều mùa Vu Lan khi đi với mẹ đến thăm những ngôi chùa ở Sàigòn của những năm xưa. Những ngôi chùa nhỏ ở trên đồi giờ đây chỉ còn nằm trong ký ức. Những ngôi chùa lớn đã mọc lên nhiều nơi ở Houston kể cả ngôi chùa Phật Quang đã làm tôi nhớ đến những ngôi chùa trong sách ở Ấn Ðộ vào thời kỳ Phật Giáo hưng thịnh, thời của đại đế A Dục (Asoka, thế kỷ thứ 3 trước Tây lịch). Phật Giáo phát triển nhưng vẫn khiêm cung không bao giờ được đặt thành quốc giáo. Ðại Ðế A Dục với lời khuyên: “Không được tôn vinh tôn giáo riêng của mình và lên án tôn giáo của người khác mà trái lại còn phải tôn vinh tôn giáo khác”, cái khiêm tốn ấy, tôi đã học được từ mẹ tôi, một người đàn bà giản dị thường đi chùa vào những ngày rằm để tâm hồn được yên tĩnh. Bà không biết chữ, không đọc sách nhưng nghe giảng ở chùa riết rồi bà cũng thấm những lời Phật dạy, đến chùa để bà cảm thấy “lòng yêu thương rộng khắp, thấy lòng êm ả, muốn hòa bình phải tự mình chuyên cần, ngay thẳng, dễ bảo, hiền lành, khiêm nhượng, không kiêu căng, không chỉ cầu cho mình mà còn cầu cho mọi người vui vẻ, hạnh phúc”.


Tôi hay theo mẹ lên chùa, lẽo đẽo đi sau bà hay ngồi trên chiếc xe thổ mộ từ nhà, trên đường Lê Văn Duyệt vào ngã ba Ông Tạ, đến ngôi chùa của hội Trung Việt ái hữu, ngôi chùa cạnh nghĩa trang của hội. Ngày Vu Lan lại là ngày mẹ tôi đi thăm chị tôi. Tôi đã theo bà vào chùa, nghe tiếng chuông, còn nhỏ tôi không hiểu hai chữ “vô thường”, nhưng theo bà vào chùa rồi ra ngoài nghĩa trang phụ bà lặt cỏ trên mộ với các anh, tôi học được chữ: “Không”.


Mẹ tôi có sáu người con trai, bà chia đều lòng yêu thương và lo lắng cho anh em tôi. Bà hay dạy chúng tôi bằng những ngọn roi kèm với những lời dạy dỗ nhưng bà lại bênh ông anh thứ nhì, khi anh bị ba tôi đánh, bà đưa tay chịu đòn, được mẹ yêu như vậy nhưng hình như tình yêu của bà không “chuyển hóa” được anh tôi! Sống trong thời chinh chiến, cũng giống như các bà mẹ khác, mẹ tôi lúc nào cũng lo lắng cho các anh tôi vào những ngày phục vụ trong quân đội. Khi nghe tin anh cả của tôi được đưa về Quân Y Viện Cộng Hòa để chữa vết thương ở chân bà lo lắng mất ăn mất ngủ, đợi sáng dẫn tôi vào bệnh viện thăm con. Bà may mắn hơn các bà mẹ khác, bà không phải khóc cậu con trai nào trong thời chiến, bà chỉ khóc hai chị tôi mất sớm. Theo mẹ nhiều lần thăm mộ chị, tôi biết bà yêu chị tôi hơn các cậu con trai ngỗ nghịch. Các cậu con trai phá phách luôn làm phiền lòng mẹ sống đúng như câu tục ngữ “anh em như thể tay chân” thích dùng vũ lực để giải quyết vấn đề! Nhưng “Huynh đệ như thủ túc” dù giận nhau anh em chúng tôi cũng không thể “ly dị” như vợ chồng vì chẳng những đã cùng chia sẻ những kỷ niệm củ mà lại còn chia sẻ cùng “di thể”.


Phải chi các chị tôi còn sống với mẹ thì chắc bà cũng đỡ khổ với sáu cậu con trai và các anh em tôi có chị em gái thì tính tình cũng hiền hơn? Hồi nhỏ, nhìn mẹ ngậm ngùi bên mộ chị tôi, tôi nhớ Phật Giáo Miến Ðiện có tích cho những người có con mất sớm như mẹ tôi: “Họ được gọi về trời vì bị đầy xuống trần lầm sổ”. Năm nay, mùa Vu Lan, nếu mẹ tôi còn sống, tôi sẽ ngồi bên cạnh mẹ và kể cho bà nghe một chuyện cổ tích chắc bà sẽ bớt buồn: “Một bà mẹ có cậu con trai 7 tuổi rất thông minh và dễ thương, không ai nhìn cậu mà không mến. Bà yêu cậu hơn mọi sự trên đời, nhưng cậu bé đột nhiên qua đời, từ đó bà không nguôi buồn. Bà khóc, khóc hoài: “Mẹ muốn nghe con nói chuyện với mẹ”. Mấy ngày sau đám tang, cậu bé bắt đầu hiện ra mỗi đêm nơi cậu chơi đùa mỗi ngày, khi mẹ cậu khóc cậu cũng khóc, đến khi trời sáng cậu biến mất. Bà mẹ không thể nào ngừng khóc. Một đêm cậu bé lại hiện về trong tấm vải trắng quấn quanh người cậu ngày chôn cất với vòng hoa nguyệt quế vấn trên đầu. Cậu ngồi xuống giường bên chân mẹ và nói: “Mẹ ơi, xin mẹ đừng khóc nữa nếu không con sẽ không ngủ yên trong quan tài vì tấm vải liệm ướt bởi những dòng lệ của mẹ cứ mãi nhỏ xuống”. Bà mẹ nghe con nói giật mình nín khóc. Ðêm hôm sau, cậu bé lại về, trên tay cầm một cây đèn lồng và nói: “Mẹ thấy không, áo con sắp khô hết rồi, con sẽ nằm ngủ yên trong mồ của con”. Bà mẹ từ đó không còn khóc, bà hiểu rõ luật Trời và cuộc đời và con bà nằm ngủ yên trong chiếc giường nhỏ dưới lòng đất”.


Nếu mẹ tôi còn sống, tôi sẽ kể cho bà nghe những câu chuyện hay như ngày còn bé mẹ tôi thường dạy tôi những câu ca dao tục ngữ và văn chương bình dân, nhưng tôi biết nếu có mẹ tôi ngồi cạnh thì cũng giống như ngày xưa, tôi chỉ có ít lời với bà vì chúng tôi là con trai chứ nào phải là… con gái mà suốt ngày thủ thỉ với mẹ. Nhân loại hàng ngàn năm vẫn không đổi. Mẹ yêu con trai và con trai yêu mẹ nhưng giữa các bà mẹ và các cậu con trai là những cuộc đối thoại âm thầm. Về sau khi gia đình khá hơn trước, các anh lớn đã đi làm, mẹ tôi đỡ vất vả, chúng tôi hay cằn nhằn với mẹ là vì muốn bà thay đổi cuộc sống nhưng mẹ tôi, một người đàn bà giản dị vẫn sống không thay đổi cho đến cuối đời. Tôi đã học được bài học của mẹ: “Ðối với một người sống với nội tâm không đi ra ngoài xã hội thì sự giản dị chính là sự sang trọng trong tâm hồn”.


Năm dự bị Y khoa, tôi được học môn tâm lý từ giáo sư Bùi Quốc Hương về “mặc cảm Oedipus”, con trai yêu mẹ và giết cha. Tôi vẫn thắc mắc về Bác Sĩ Signmund Freud với mặc cảm Oedipus. Yêu mẹ đến đâu con cũng không thể ngủ với mẹ và giết cha. Tìm về huyền thoại Hy Lạp, câu chuyện Oedipus có khác với ẩn dụ của Bác Sĩ Freud:


“Vua Laius nước Thebes lấy bà Iocast đã lâu mà không có con nối dõi, ông bí mật đi đến đền Delphi để hỏi nhà tiên tri. Vua được nhà tiên tri cho biết bất cứ đứa con nào của ông với bà Iocast sẽ là kẻ sát nhân giết ông vì vậy nhà vua gởi bà Iocast đi ở nơi xa nhưng 9 tháng sau bà Iocast lại sinh ra một bé trai. Vua Laius giằng đứa bé từ tay bà vú, đóng đinh vào hai bàn chân của cậu và bỏ cậu bé trên đỉnh núi Cithaeron. Ông thần Ðịnh Mệnh lại phán rằng: Cậu bé này sẽ sống đến già. Những người chăn cừu tìm thấy cậu bé đem về nuôi, đặt tên là Oedipus (chân què) vì hai bàn chân bị tật sau khi bị đóng đinh. Cậu bé được đưa về xứ Corinth, Vua Polybus nuôi cậu đến lớn. Một ngày Oedipus bị bạn bè chọc ghẹo vì không giống bố mẹ nuôi, Oedipus đến Delphi hỏi nhà tiên tri, nhà tiên tri phán ‘mày sẽ giết cha và lấy mẹ!’ nghe vậy, yêu ông bà Polysus, cậu bỏ đi không về lại Corinth vì sợ cậu sẽ giết hai ông bà.


Trên con đường hẻm qua núi giữa Delphi và Daulis, Oedipus gặp vua Laius ngồi trên chiến xa ra lệnh Oedipus phải tránh đường cho xe đi. Oedipus giận dữ trả lời: ‘Ta không nghe lịnh ai ngoài cha mẹ và Thượng Ðế’. Vua Laius nổi giận la lớn ra lệnh cho lính phóng chiến xa đi tới, bánh xe cán lên chân Oedipus khiến anh chàng nổi giận phóng lao giết lính lái xe, chiến xa ngã kéo lê Vua Laius, giết chết ông. Oedipus đi đến xứ Thebes gặp con Sphinx (mặt người thân sư tử) trả lời được câu hỏi của Sphinx: ‘Con gì có một giọng nói nhưng có khi 2 chân, có khi 3 chân, có khi 4 chân, khi 4 chân là lúc yếu nhất’. Oedipus trả lời: Ðó là con người. Con Sphinx nhảy xuống thung lũng từ trên núi Phicium tự vẫn tan thành mảnh vụn (Sphinx giao hẹn nếu không trả lời được câu hỏi nó sẽ giết, nếu trả lời được nó sẽ tự vẫn). Oedipus đến Thebes, vì trả lời được câu hỏi của con Sphinx nên được dân tôn làm vua, lấy bà góa phụ hoàng hậu Iocaste mà không biết bà là mẹ mình. Về sau Trời phạt dân Thebes bằng cơn dịch hạch”.


Hiển nhiên là mặc cảm Oedipus do Bác Sĩ Sigmund Freud đặt ra hoặc vì ông không đọc kỹ huyền thoại Hy Lạp, Oedipus giết cha lấy mẹ vì tình cờ, hoặc là vì ông muốn mọi người chú ý đến thuyết bịnh tâm thần xảy ra do sự dồn nén tình dục.


Con yêu mẹ không có ẩn ý tình dục nhưng trên phương diện y học con giết mẹ. Họa sĩ nổi tiếng Gustar Klimt vẽ hình 3 giai đoạn của đời người đàn bà theo thần thoại Hy Lạp, từ lúc trẻ qua tuổi trung niên đến khi già, bà Cronus lưng còng tóc bạc. Ở thế hệ của mẹ tôi, đàn bà Việt Nam lấy chồng nuôi con đi thẳng từ trẻ đến già bỏ qua giai đoạn giữa, vui với chồng con, không vui với cuộc đời. Con càng đông mẹ càng già, mỗi lần sinh con là mỗi lần tổn thọ. Ðọc lại chuyện Phật, tôi thấy may mắn hơn Phật. Bảy ngày sau khi sinh đức Phật bà Màya (mẹ Phật) mất. Mohammed xem các bà mẹ chết trong khi sinh là Thánh tử Ðạo của Hồi Giáo.


Tóc bạc, lưng còng, da nhăn nheo, xương mất chất vôi, chất kích thích tố giảm vì mẹ nuôi con, cho con bú, mẹ chết dần mòn theo số đứa con ra đời và cũng như Thần Ðịnh Mệnh phán trong câu chuyện cổ tích Hy Lạp về Oedipus, con giết mẹ vô tình, đứng trên phương diện y khoa. Không biết thì không có tội, và dòng đời vẫn vô tình trôi đi…


Hồi Tháng Năm, vào Ngày Mẹ, tôi một mình ở trong căn nhà lớn, căn nhà trong bao nhiêu năm qua lúc nào cũng đông người nay trở nên vắng vẻ. Căn nhà với tấm hình lớn ở phòng khách với 6 con chim sáo đậu trên cành. Bức hình thêu trên lụa của người bạn ngày tân gia tình cờ thành bức hình gia đình tôi Hai con chim nhỏ bay rời tổ ngày trưởng thành rồi mấy năm gần đây cặp chim già (ông bà nhạc) cũng bay đi. Hôm ấy tôi cô đơn nghĩ đến mẹ tôi vào những ngày sau 30 Tháng Tư năm 1975. Hai năm bà nằm cô đơn trên giường trong phòng sau khi cha tôi mất, một anh đã đi Mỹ và hai anh bị đi học tập cải tạo. Tôi vẫn cố thử nghĩ xem mẹ tôi đã nghĩ gì về cuộc đời khi cả nước và gia đình ở trong tình trạng bi thảm sau 30 Tháng Tư 1975. Sàigòn của bà đã mất. Cái Sàigòn thu rất nhỏ của bà đi từ nhà ra chợ Vườn Chuối mỗi ngày. Sàigòn với hạnh phúc với con cháu, một hạnh phúc giản dị. Sàigòn của bà đã đóng lại sau ngày các anh tôi vắng mặt. Sàigòn lạ lùng với bà sau những thay đổi lớn lao như một Sàigòn khi tôi về thăm năm 1995, Sàigòn xa lạ của một người khách lạ. Sàigòn, như một người bạn thân cùng lớp y khoa của tôi trở về sau 20 năm, được hỏi: “Bạn nhớ gì nhất ở Sàigòn khi bạn về Sàigòn”. Câu trả lời của bạn tôi đau như vết dao chém: “Tôi nhớ Sàigòn!”


Bao mùa Vu Lan đã qua, tôi đã viết nhiều bài Vu Lan, về Mẹ. Tôi đã viết thay cho các anh em tôi về mẹ, về những ngày tháng chúng tôi đã bỏ quên mẹ, viết về mẹ những đêm những ngày đã lo lắng cho các con, viết về mẹ như bồ tát hy sinh cho chồng con, viết về mẹ và những ngày cực khổ nhưng vẫn vui và hãnh diện vì các con. Con vẫn biết mẹ có những niềm vui và những nỗi buồn giấu kín như các bà mẹ khác. Con vẫn biết mẹ yêu các con mà không được các con lo cho mẹ vào những ngày mẹ cần các con.


Con đã thay cho các anh em viết về mẹ vào những ngày Vu Lan nhưng có một điều mà con chưa viết (vì con là con trai không nói được như con gái!): Trong hơn 35 năm qua từ ngày mẹ mất, chúng con không bao giờ ngừng yêu mẹ và quên mẹ.


Vu Lan 2012

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT