Tâm Nguyện Phan Chức/Người Việt Utah
Ðạo Phật đã được phổ cập trong quần chúng một cách sâu rộng, cho nên các chùa, viện cũng xuất hiện khắp nơi trên những nẻo đường Việt Nam.
Cổng Tam Quan chùa Phổ Quang tại Salt Lake City, Utah.

Từ những miền núi rừng thâm u, hay cạnh dòng sông hiền hòa của đồng quê, cho đến những nơi huyên náo của phố xá thị thành, hình ảnh ngôi chùa với cổng Tam Quan trở nên quen thuộc với mọi người. Cổng Tam Quan tức là cổng có ba cửa đi: Một của giữa lớn và cao, hai cửa nhỏ ở hai bên và hơi thấp hơn cửa giữa. Vì ảnh hưởng sâu đậm bởi tinh thần Thiền Học cho nên khi nói đến chùa người ta thường nói là Thiền Môn có nghĩa là cửa Thiền, hay còn gọi là Không Môn có nghĩa là Cửa Không, nơi đó có những người tu, hiền lương, giải thoát. Còn về Cổng Tam Quan cũng gọi là Tam Giải Thoát môn, tức là Ba Cánh Cửa Giải Thoát, ba cánh cửa đó là:
– Cửa Không
– Cửa Vô Tướng
– Cửa Vô Tác, hay cũng gọi là Vô Nguyện.
Tất cả những từ ngữ đó là tiếng nói trong nhân gian, và nguồn gốc xuất xứ những danh từ này là phải nói bắt nguồn từ Ba Pháp ấn trong Ðạo Phật. Trước khi dẫn tới ý nghĩa của Cửa Không hay Ba Cánh Cửa Giải Thoát, chúng tôi muốn giới thiệu đến quý vị Ba Dấu Ấn trong Ðạo Phật.
Ấn là dấu in, Pháp là chân lý không thay đổi. Như vậy Ba Pháp ấn có nghĩa là Ba Chân Lý. Vì là chân lý nên không bao giờ thay đổi, cho dù ở đâu, quốc độ nào, và bất cứ lúc nào cũng đúng và phù hợp trong nhân gian, cho nên cũng thường gọi là Ba Ðặc Tính trong cuộc đời. Ba Pháp Ấn đó là:
1. Vô Thường
Nói về Vô Thường thì chúng ta phải nói từ thân tâm cho đến vũ trụ vạn hữu, muôn vật đều biến đổi từng niệm, từng giây, từng phút. Niệm, giây, phút là chỉ cho thời gian hết sức ngắn ngủi, tuy nhiên mọi sự vật thay đổi còn mau hơn tâm niệm. Niệm sau sanh, niệm trước diệt. không những chỉ có trên phương diện tâm lý, mà còn trên cả phương diện vật lý cũng đều như thế. Hữu tình thế giới thì có Sanh, Trụ, Dị, Diệt, mỗi tích tắc thay đổi không thường. Hoa nở rồi tàn, trăng tròn rồi khuyết, cho đến trái đất nơi chúng ta đang cư trú cũng rung chuyển vận hành thay đổi. Ðây là Vô Thường của hiện tượng giới. Trạng thái vui, buồn tù trẻ đến lớn, từ lớn đến già, từ già đến chết, sự thay đổi này là Vô Thường tâm sinh lý của nhân sinh. Mọi sự mọi vật tạo tác, biến chuyển không ngừng vật lý, tâm lý cũng như thế, nghĩa là bị nhân duyên phát động, tất cả đều là sự vật không cố định, cho nên gọi là Vô Thường.
2. Vô Ngã
Nói về Vô Ngã thì có hai sự phân biệt: Nhân Vô Ngã, và Pháp Vô Ngã.
– Nhân Vô Ngã:
Con người do năm uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức do nhân duyên kết hợp với nhau mà có, nương theo sự giả hợp đó mà gọi là con người. Sự thật khi phân tích kỹ thì chúng ta thấy không có chi là con người hết. Do đó mà gọi là Nhân Vô Ngã.
– Pháp Vô Ngã:
Muốn vật ở đời do Sắc Pháp và Tâm Pháp tạo duyên kết hợp với nhau mà có. Cái này nương cái kia mà sanh, vật này nương vào vật nọ mà có. Nghĩa là tất cả mọi sự vật tương đối mà có, tuyệt đối không có vật chi có thể tồn tại được. Nói một cách khác, không luận là sự vật có tạo tác hay không tạo tác đều không có thật thể tồn tại cho nên nói là các Pháp Vô Ngã.
– Khổ hay Niết Bàn Tịch Tịnh
Nói về tất cả những cảnh khổ trong thế gian thì không bao giờ cùng, tuy nhiên Ðức Phật dạy là có Ba Thứ khổ như sau:
a. Khổ Khổ
Tự bản thân của chúng ta đã là nạn nhân của bao nhiêu cái khổ và không bao giờ làm chủ được, cũng không sao hình khỏi như. bệnh tật, đói khát, bão lụt hỏa hoạn, chiến tranh tàn phá, bị áp bức, sưu cao thuế nặng, v.v… Có nghĩa là cái khố này chồng chất lên cái khổ kia cho nên gọi là Khổ Khổ.
b. Hoại Khổ
Trong Kinh Ðức Phật ngài có dạy: Tất cả những cái gì có hình tướng đều bị hoại diệt. Thật như vậy, vạn vật trong vũ trụ đều bị Vô Thường chi phối, không tồn tại mãi được. Cứng rắn như sắt đá cũng có ngày hoại diệt, những vật lớn như trái đất lâu ngày cũng có lúc tan rã. Yếạu ớt nhỏ nhắn như thân con người, thì mạng sống lại càng ngắn ngủi hơn. Cái búa thời gian nó đập nát tất cả, mỗi giây, mỗi phút ta đang sống cũng là mỗi phút mỗi giây ta đang bị hoại diệt mà không nể vị bất cứ một ai. Cho dù ta có quyền lực bao nhiêu đi nữa cũng không tránh khỏi dòng thời gian tiêu diệt đời ta, nên gọi đó là Hoại Khổ.
c. Hành Khổ
Về phương diện vật chất thì chúng ta bị ngoại cảnh, thời gian chi phối, phá hoại. Còn về phương diện tinh thần chính ta cũng, không tự chủ, tự do được. Tâm hồn ta thường bị dục vọng dằn vật, lôi kéo thúc đẩy từng phút từng giây, tư tưởng của chúng ta cũng biến chuyển nhảy vọt từ chuyện này sang chuyện khác như vượn chuyền cây không bao giờ ngừng nghỉ. Ði sâu vào trạng thái tâm hồn là phần tiềm thức chi phối, sai sử một cách mãnh liệt trong mỗi ý nghĩ cử chỉ và hành động của chúng ta. Ta giận, ta thương, ta ghét… tất cả đều bị kiềm chế. Nói tóm lại, ta không được tự do mà trái lại bị chi phối bởi những ý tưởng đam mê dục vọng, và luôn luôn chịu mệnh lệnh nô lệ bởi đam mê tham dục, nên gọi đó là Hành Khổ.
Như chúng ta thấy, tất cả mọi sự mọi vật đều bị định luật vô thường chi phối thay đổi, cho nên nó không còn nguyên vẹn như thuở ban đầu. Như một con người từ khi lọt lòng mẹ sinh ra đời, theo thời gian lớn lên để trở thành một cậu thanh niên, hay một cô thiếu nữ, rồi cũng theo thời gian biến đổi để trở thành một ông già hay bà cụ. Như vậy cũng một con người có lúc chúng ta gọi là em bé, có lúc chúng ta gọi là cô cậu thanh niên, thiếu nữ, có lúc chúng ta gọi ông già, bà cụ v.v… Vì thế chúng ta nói: Tất cả đều tuân theo định luật Vô Thường mà thay đổi cho nên mọi sự mọi vật đều Vô Tướng, hay nói một cách ngắn gọn hơn: Vì Vô Thường nên Vô Tướng. Vậy Vô Tướng là tên khác của Vô Thường.
Vì là Vô Tướng nên không có cái gì là của tôi, như nói: Tôi là một em bé mới sinh ra, hay là một cô, cậu thanh niên, hay một ông già bà cụ. Tất cả những tên này cùng là một con người, nhưng khi mới sanh thì gọi là em bé, khi lớn lên thì gọi là thanh niên, thiếu nữ, khi già thì gọi là ông già bà cụ, tất cả những cái tên này là giả danh, không có cái gì là thiệt của tôi.
Kiếp người do vì Vô Thường, Vô Ngã bức bách cho nên chúng ta đau khổ. Ý thức sự đau khổ thâm trầm, thiên thu vạn đại đó thì đâu còn muốn làm gì nữa. Bởi vì làm một em bé cũng khổ, làm một người ăn xin ở đầu đường xó chợ cũng khổ, mà làm một ông thủ tướng hoặc tổng thống cũng khổ, trong địa vị nào cũng có cái khổ của nó. Ngộ được chân lý này tôi thì không còn nguyện ước làm cái gì hết.
Trên bước đường tu học, nếu muốn hiểu được cảnh đời là Vô Thường thì hành giả cần phải có Ðức Tin rất là kiên cố mới có thể thấu triệt được cảnh đời Vô Thường. Khi thấu triệt cảnh đời Vô Thường thì đắc được Vô Thường Quán tức là được Vô Tướng Giải Thoát Môn. Muốn hiểu thấu Lý Vô Ngã thì hành giả cần phải sử dụng đến Trí Tuệ, để phân tích tất cả mọi sự vật đều không có thực chất chính nó. Thâm nhập được lý Vô Ngã thì được Không giải thoát Môn. Muốn hiểu thấu những cảnh đời đau khổ thì cần sử dụng đến định lực. Thấu triệt được những đau khổ của kiếp người rồi thì hành giả đạt được Vô Nguyện Oan Thoát Môn, hay cũng gọi là Vô Tác Giải Thoát Môn.
Như trên tôi đã trình bày sơ luận về Ba Pháp Ấn để dẫn tới ý nghĩa và điểm xuất xứ của Tam Giải Thoát Môn. Vô Thường, Vô Ngã để dẫn tới ý thức cuộc đời đau khổ, để chuyển hóa từ đó trở thành Không, Vô Tướng, và Vô Tác mà có thể thấy được liền tất cả đều là Không. Bởi vì nếu chúng ta phân tích thì chúng ta sẽ thấy:
Vô Thường tức là mọi sự vật đặt trong tình trang bất ổn nên là Không.
Vô Ngã, là tự lánh, thật chất không có nên nói là Không.
Nói Tóm lại Cổng Tam Quan là tiêu biểu cho Ba Pháp Ấn trong Ðạo Phật. Khi chưa tu, chưa biết tu thì Ba Pháp Ấn đó là Vô Thường, Vô Ngã và Khổ. Nhưng khi tu tôi đắc pháp thì thấy Vô Thường là Thường, Vô Ngã là Thường và Khổ là Thường trở thành Ba Cửa Oan Thoát đó là Cửa Không, Vô Tướng và Vô Tác. Vì muốn chỉ cho chúng ta biết cảnh giới của Hữu Tình Không, nên Ðức Phật phải dùng Vô Thường, Vô Ngã để dẫn đến Niết Bàn Tịch Tịnh.
Ý nghĩa thâm thúy của Cổng Tam Quan mà người đời thường gọi cửa Chùa là Cửa Không là như thế. Thật sự trong cuộc đời này nếu chúng ta hiểu được phần nào của Ba Pháp Ấn thì cuộc sống của chúng ta sẽ vượt thoát được những đau khổ, ràng buộc, kiên chấp sai lầm v.v… như thế cuộc sống của chúng ta chắc chắn sẽ an lạc, hạnh phúc trong cuộc hành trình tâm linh và ước muốn là được “Giải thoát.” Cộng đồng Phật tử chúng ta đều có sự cảm nhận tương tự nhau. Tâm linh bất dệt trong mỗi chúng ta đều giống nhau. Nhất là đang sống tại hải ngoại chúng ta cần có đời sống vật chất cân bằng với tâm linh, để hài hòa cho cuộc sống hiện tại. Ðức Phật dạy: “Oán không bao giờ diệt được oán, chỉ có tình thương yêu mới diệt được oán.”



























































































