Cựu Phi Công Chung Tử Bửu du học tại Hoa Kỳ

Chu Dũng Sĩ/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Ông Chung Tử Bửu nhập ngũ ngày 27 Tháng Chín, 1965, Khóa 65E2 Không Quân, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang. Tháng Mười, 1966, ông được về trình diện Phòng Du Học Tổng Hành Dinh Không Quân ở Tân Sơn Nhứt để đi học lái phi cơ ở Hoa Kỳ, qua các quân trường Lackland Air Force Base (AFB) ở San Antonio, Texas; Fort Wolters AFB ở Bắc Texas; và Fort Rucker AFB, tiểu bang Alabama. Ông ra trường cuối Tháng Năm, 1967.

Cựu Phi Công Chung Tử Bửu. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Du học lái trực thăng tại Hoa Kỳ

Sáng sớm ngày 16 Tháng Mười, 1966, chiếc Boeing 707 của hãng Northwest đáp xuống phi trường Travis Air Force Base (AFB) ở ngoại ô San Francisco, California. Sau đó, xe bus chở 12 SVSQ Không Quân ra phi trường San Francisco để đi San Antonio, Texas.

Ông Bửu kể: “Trên đường từ Travis AFB đi San Francisco, tôi quan sát cảnh vật hai bên xa lộ và nghĩ thầm, sao mà xứ Mỹ cái gì cũng đẹp, không biết tới thuở nào nước Việt mới được như người ta. Chúng tôi tới San Antonio vào khuya ngày 16 Tháng Mười, 1966. Xe bus của Không Quân Hoa Kỳ đón chúng tôi về Lackland AFB ở ngoại ô San Antonio, Texas.

Đây là nơi chúng tôi sẽ học Anh Ngữ trước khi ra trường bay. Khi được dẫn vào dãy barrack hai tầng là nơi cư ngụ của các SVSQ Việt Nam. Chúng tôi gặp lại những bạn cũ và các khóa đàn anh đã qua trước đón mừng. Lúc bấy giờ, đàn anh đàn em gì cũng như nhau, tất cả cùng tíu tít trò chuyện. Bọn ma cũ chỉ dẫn đám ma mới các tiện nghi cần thiết. Lần đầu tiên bỏ đồng dime (10 xu) vào máy bán nước uống, bấm một cái, chai nước ngọt lọt xuống rãnh. Ôi, thật là tân tiến quá xá!”

Thời kỳ ở Lackland AFB

Ngày hôm sau, nhóm mới tới bắt đầu vào chương trình học Anh Ngữ. Tại Lackland họ chỉ học những từ ngữ chuyên môn của ngành phi hành để sau này tập lái phi cơ. Họ cũng được học một số từ ngữ căn bản để giao tiếp với người dân Mỹ, nhưng chú trọng về kỹ thuật phi cơ và phi hành.

Một buổi tối ở Lackland, nhóm SVSQ mới tới xúm lại bàn tán đủ thứ. Trong lúc họ đang bàn chuyện gửi thư về nhà thì anh chàng Nguyễn Văn Chờ hốt hoảng la lên, “Ê, tụi bây bỏ thơ vô thùng nào?” Trong nhóm có người nói: “Thì cái thùng màu xanh dương đậm có chữ US Mail đó!” Ông Chờ hốt hoảng nói: “Chết tao rồi! Tao bỏ hết thơ của tao vô thùng màu trắng!”

Trong nhóm đều cười ngất, có người nói: “Chờ ơi! Mầy bỏ thơ vô thùng rác hết rồi!” Ông Chờ ngơ ngác nói: “Thì tao thấy họ đề chữ letter, nên tao bỏ vô đó thôi. Tao thấy cái thùng sạch boong mà!” Trong nhóm có người nói: “Hổng phải letter mà là litter. Litter là rác, nghĩa là thùng đó dùng đựng rác ông ơi!” SVSQ Chờ nói tiếp: “Vậy, họ có lấy thơ bỏ qua thùng xanh giùm mình hông?”

Quân Trường Fort Rucker AFB, Alabama. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Ông Bửu vui vẻ kể lại: “Số là, vừa tới Mỹ, hễ ghé ở đâu là cả bọn chúng tôi đều mua postcards, viết vài hàng cho người yêu và gia đình, dán tem rồi bỏ vô thùng US Mail. Hóa ra ông Chờ nhà ta tốn tiền, tốn công viết rồi bỏ hết vô thùng rác ở Travis AFB và phi trường San Francisco, làm cho anh em chúng tôi cười muốn bể bụng.”

Ông kể thêm: “Lúc mới tới Lackland, tôi thấy anh Trần Văn Ngọc qua trước tôi khoảng một tháng mặc quần Jean nylon quá đẹp. Tôi hỏi anh mua ở đâu. Anh chỉ qua khu siêu thị bên ngoài căn cứ, phía bên kia bãi cỏ rộng. Tôi đi một mình qua đó, vào siêu thị WINN’S tìm mua quần, mà quýnh quá quên mất tiếng Anh gọi cái quần là gì. Tối hôm đó tiệm rất vắng, người bán hàng là một bà Mỹ trắng khá lớn tuổi. Khách hàng thì chỉ có một mình tôi. Bà hỏi, ‘What can I help you with?’ Tôi đứng ú ớ, “I want, I want…” Rồi vì không nhớ chữ quần, tôi nắm ống quần đang mặc và giật giật ý nói là cái quần. Bà rất bối rối vì không hiểu ý tôi. Bà cũng cầm hai bên váy của bà giật giật rồi ngẫm nghĩ.”

Ông Bửu nói tiếp: “Tôi biết bà không hiểu nên tôi nói, ‘I want Jean, Jean.’ Bà mừng quá dẫn tôi tới khu quần blue jean. Tôi la lên: ‘No, no, I want nylon Jean.’ Bà chưa hiểu nên dẫn tôi đi lòng vòng khu quần đàn ông. Chợt tôi thấy một xấp quần Jean nylon, tôi chỉ vào chúng, ‘I want this!’ Bà lại hỏi, ‘What’s your size?’ Tôi lại bối rối vì không hiểu size nghĩa là gì. Bà lấy thước dây đo quần tôi rồi cầm một cái quần dẫn tôi tới cửa phòng mặc thử, bảo tôi, ‘Try it’.”

“Tôi hiểu bà biểu tôi vô mặc thử, nhưng tôi thắc mắc, tại sao mặc thử mà bả nói ‘try’ là cố gắng vậy ta? Cái quần lớn quá, tôi đem ra lắc đầu nói, ‘It’s too big.’ Bà lấy cái nhỏ hơn, cũng too big. Cuối cùng bà chọn được cái quần vừa vặn cho tôi. Bà lại hỏi, ‘Do you need a belt?’ Tôi tá hỏa, cái gì mà cọp beo nữa đây? Beo là gì vậy ta? Bà biết tôi không hiểu, bà dẫn tôi tới khu dây nịt. Lúc đó tôi mới nhớ ra belt là dây nịt. Thiệt là hú vía,” ông Bửu vui vẻ nói thêm.

Thành Phố San Antonio

Sáng Chúa Nhật có xe bus của trường chở nhóm SVSQ Không Quân mới tới đến nhà thờ First Castle Hill Baptist Church ở phía Bắc San Antonio.

Các gia đình trong nhà thờ này, mỗi gia đình chọn một người trong nhóm SVSQ Việt Nam. Ông Chung Tử Bửu được gia đình ông bà Henry V. Albright rước ông về nhà của họ. Sau đó họ cùng ông Bửu ăn trưa và trò chuyện. Khi biết ông Bửu đạo Tin Lành họ mừng lắm. Ông Henry V. Albright là cựu Thiếu Tá Không Quân Mỹ đã giải ngũ. Bà là người Puerto Rico da trắng rất đẹp. Sau khi đã thân thiện với gia đình này, mỗi Chúa Nhật ông bà tới Lackland đưa ông Bửu đi nhà thờ và họ đem ông về nhà ăn trưa. Đến chiều thì họ đưa ông Bửu trở lại trường.

Ông Bửu tâm tình: “Ông bà Henry V. Albright nhận tôi làm con đỡ đầu. Bà Zelma là mẹ của ông đàn piano rất giỏi, và bà cũng nhận tôi làm cháu ruột của mình. Sau khi tôi rời Lackland, họ và tôi vẫn thường xuyên thư từ qua lại. Sau ba tháng rưỡi học Anh Ngữ tại

Lackland AFB, tôi chuyển đi trường bay học lái phi cơ.”

Ông Bửu nhớ lại: “Các món ăn tại nhà ăn Mess Hall ở Lackland đều là món Mỹ. Ăn vài tuần là ngán tới cổ. Đứa nào cũng thèm món ăn Việt Nam. Nhưng luật ở đây là không được phép nấu nướng bất cứ thứ gì trong barrack. Nếu ai vi phạm sẽ bị phạt đi bộ vào cuối tuần, không được ra phố chơi. Có một hôm, ông bạn Bùi Đăng Thủy trong phòng tôi lén mua mọi thứ cần thiết, và mượn đâu được cái chảo đem xuống basement xào miến gà. Cả bọn bốn đứa đang sì sụp ăn và khen ngon, thì bị Đại Úy Nguyễn Kim Cương, sĩ quan liên lạc vào kiểm soát. Thế là cả bốn thằng Chung Tử Bửu, Bùi Đăng Thủy, Nguyễn Gia Quyết và Tô Thanh Chiêu bị phạt một tháng đi bộ, tức là bốn Thứ Bảy và bốn Chúa Nhật không được ra ngoài mà ở tại trường nhận hình phạt đi bộ xung quanh sân bóng rổ cạnh chỗ ở.”

Theo ông Bửu, suốt thời gian du học ở Lackland AFB là thần tiên nhất. Trong trường có tới 64 quốc gia gửi học viên tới học. Thành phố San Antonio rất hiền hòa xinh đẹp và cũng có nhà hàng Tàu với các món ăn rất ngon và rẻ, chỉ ba hay bốn người hùn nhau trả tiền là sẽ có một bữa ăn no nê, ngon miệng. Ông Bửu vẫn nhớ món canh mà ông bếp Tàu này nấu, nhưng họ không biết tên nên cứ gọi “hằm bà lằng soup” là ổng hiểu liền.

Quân Trường Fort Wolters AFB ở Bắc Texas. (Hình: Chung Tử Bửu cung cấp)

Trong một buổi đi thăm San Antonio do trường tổ chức, Chung Tử Bửu được nữ hướng đạo Melissa Valone tới chào và làm quen, rồi họ trở thành bạn. Sau khi rời Lackland, thỉnh thoảng họ thư từ qua lại. Cuối Tháng Giêng, 1967, 12 SVSQ Việt Nam đi xe bus Grey Hound từ San Antonio đến căn cứ Lục quân Fort Wolters ở Bắc Texas, nằm về phía Tây của thành phố Fort Worth 47 miles. Đây là thành phố nhỏ Mineral Wells sát bên Fort Wolters. Ở đó có một hồ nước rất lớn, gọi là Possum Kingdom Lake.

Học lái trực thăng tại căn cứ Fort Wolters

Fort Wolters là một căn cứ rất rộng của Lục Quân Hoa Kỳ cũng là trung tâm dạy lái phi cơ trực thăng của Lục Quân. Ông Bửu được xếp khóa học 67-16A. Tại quân trường này có hai loại trực thăng nhỏ để bay tập, đó là OH-23 và TH-55. Ông được huấn luyện lái trực thăng OH-23D là loại lớn hơn trực thăng “nòng nọc – TH-55.” Vị sĩ quan liên lạc cho các học viên Việt Nam ở Fort Wolters là Đại Úy Không Quân Trịnh Văn Lân và Đại úy Bộ Binh Mỹ Timmermyers.

Chung Tử Bửu tâm tình: “Khi bắt đầu tập lái trực thăng, tôi cứ tưởng mình sẽ không vượt qua nổi cửa ải đầu tiên pre-solo, bởi vì phải giữ cho phi cơ đứng yên một chỗ cách mặt đất 3 feet gọi là hover. Khi tập hover thì rất khó điều khiển phi cơ. Chiếc phi cơ cứ lủi tới, thụt lui, xàng qua bên phải, rồi bên trái, hay quay mòng mòng. Theo quy định của khóa học là sau một tháng, người nào có thể bay một mình được thì đậu pre-solo. Thật ra mỗi tháng chỉ có 20 giờ bay tập mà thôi, và nếu người nào đã tập 16 tiếng mà chưa bay solo được thì sẽ bị đuổi khỏi khóa học và trả về nước. Các khóa sinh Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Trong nhóm chúng tôi lúc ấy có bốn người phải về nước rồi.”

Những kỷ niệm tại Lackland AFB

Chung Tử Bửu nhớ lại: “Lúc đó, ông Gene Ainsworth, cựu đại úy Không Quân Mỹ đến thăm chúng tôi. Sau đó, ông nhận tôi làm em kết nghĩa và chở tôi đi Oklahoma chơi. Trong lúc trò chuyện, ông chỉ khuyên tôi hãy cố gắng học tập chứ ông không thể giúp gì được cho tôi cả. Vì ông ta là cựu phi công F-100, không phải trực thăng. Trước đó, khi tôi tập bay tới giờ thứ chín thì huấn luyện viên Ellison nói, ‘Thằng này không có khả năng bay.’ Ông ta chuyển tôi qua thầy khác. Huấn luyện viên mới đem tôi đi bay, chỉ khoảng 45 phút sau ông trở về giao tôi cho ông Williams, phi đoàn trưởng, và cũng nói rằng, ‘Thằng này không lái phi cơ được.’”

Ngày hôm sau, ông Williams dành một buổi bay với ông Bửu. Sau khi bay xong, ông viết lời phê: “Ứng viên này chỉ cần tập khoảng một tiếng rưỡi nữa là có thể solo được.” Sau đó, ông chỉ định một thầy khác để huấn luyện ông Bửu. Ông thầy này tên là Lowell Lindle, hiền lành, lớn tuổi và có nhiều kinh nghiệm huấn luyện.

Ông Bửu nói: “Khi được ông thầy Lowell Lindle hướng dẫn lái, việc đầu tiên ông ta hỏi tôi, ‘Nhược điểm của anh là gì, anh yếu chỗ nào?’ Tôi thú thật với ông ta là tôi bị trở ngại khi đạp hai cái pedals. Lý do là khi tôi đạp pedals thì hay bị lố, nên phi cơ xoay quá mức tôi định. Hoảng hồn đạp ngược lại thì lố chiều kia. Đến khi giữ được phương hướng thì phi cơ đã lên tít trên cao hoặc xàng cách xa chỗ cũ vài trăm thước.”

Ông nói thêm: “Khi ông hiểu được nhược điểm của tôi, ông cho tôi tập điều khiển pedals suốt một tiếng đồng hồ. Tôi cứ cho càng phi cơ lết lết trên mặt sân để đạp hai cái pedals thôi. Thầy Lindle dạy tôi bay thêm hai giờ nữa. Vì giai đoạn pre-solo chỉ tập cất cánh bay vòng phi đạo rồi đáp xuống. Mỗi lớp có một cái phi trường nhỏ thường là hai tới bốn runways. Học trò cứ cất cánh lên bay một vòng rồi đáp xuống. Tập làm sao để cất cánh lên và đáp xuống cách an toàn là được.” [dt]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT