Đọc ‘Thơ Trong Tay Áo’ của Trần Mộng Tú

Trần Doãn Nho

Nhà thơ Trần Mộng Tú vừa xuất bản một tác phẩm mới vào mùa Hè 2025: “Thơ Trong Tay Áo.”

Bìa trước tập thơ “Thơ Trong Tay Áo.” (Hình: Trần Doãn Nho)

Khác với các tác phẩm xuất bản trước đây, tập thơ mới này có hai đặc điểm: một là, thơ song ngữ Việt-Anh; và hai là, tập thơ mỏng, rất mỏng, chưa tới 50 trang, với chỉ có 31 bài thơ.

Hơn một nửa trong số đó là những bài thơ “bốn câu năm chữ,” kế đó là “sáu tám” và điểm thêm vài bài “bốn câu bảy chữ.” Hầu hết đều ngắn, mỗi bài một khổ. Trông như những “miếng thơ,” nói theo ngôn ngữ của chị. Mỗi miếng diễn đạt một ý tưởng nhân sinh cô đọng, thể hiện qua một vài hình ảnh được chọn lựa kỹ càng, sắc nét. Đúng là “thơ trong tay áo.”

Cầm tập thơ nhỏ nhắn, mỏng, gọn trong bàn tay, tôi tự dưng cảm nhận được “nỗi niềm” của cái tựa đề “Thơ Trong Tay Áo”: chị muốn thu tóm, dàn xếp mọi sự của đời vào trong góc nhỏ của bản thân: tay áo mình.  Ngày xưa, nhà thơ “phất tay áo,” tung thơ ra khắp thế gian, bây giờ, chị cất giữ lại “trong tay áo” để tự thưởng thức dần dần, một mình, như chị diễn tả trong hai câu thơ đầu sách, xem như “lời tựa”:

Tôi giấu thơ vào trong tay áo
Thỉnh thoảng mang ra nếm một dòng.

Tập thơ mở đầu với bốn bài; cả bốn bài đều mang lại những hình ảnh tiêu cực.

Bài thơ đầu, “Gió Mùa,” ẩn dấu một tiếng thở dài ngậm ngùi tiếc rẻ:

Nhờ gió mùa mang hộ
mái tóc xanh qua hồ

Gió vụng về đánh rớt

rơi trắng cả trang thơ

“Xanh” và “trắng” là hai nét đặc trưng chỉ màu “tóc” của hai thời kỳ, được nhà thơ khéo léo muợn cái vụng về của cơn gió để mô tả sự dịch chuyển tất yếu của đời người.

Ba bài thơ kế tiếp đều đề cập đến mùa Xuân, mỗi bài một khung cảnh, khung cảnh nào cũng không vui.

“Hoa Tết” là một nỗi ngờ vực khó hiểu, cái gì xuất hiện cũng mang vẻ “hình như,” kể cả cành hoa mai, biểu trưng cho Tết:

Hình như cành hoa mai
nở một chùm nước mắt

“Đêm Ba Mươi,” giao thừa, thay vì là đêm đoàn tụ, hóa ra, là đêm cô độc lạnh lùng:

Đập tay vào cánh cửa
Gọi đêm ba mươi xưa

Cánh cửa im và lạnh

Mùa Xuân, không có những “mầm xanh mọc trên cành khô run rẩy vườn đêm,” như trong bài “Mùa Xuân Pháo Đỏ” ngày nào, mà là “Khách Lạ”:

Xuân sắp về tới nơi

Xuân cũ mất hẳn rồi

Đây là người khách lạ

Những dòng thơ khác thường này báo hiệu một nội dung khác thường. Nghe bi lụy, phiền não. Tưởng như nhà thơ gặp phải biến cố đau buồn nào trong cuộc sống.

Không hẳn đâu!

Những dòng thơ với nội dung từa tựa như thế này đã từng xuất hiện đâu đó trước đây trong thơ chị:

Cúi xuống nhìn thân thể
Mảnh hình hài như có như không

Tôi đi đâu

Tôi về đâu

(Hunting House)

Một mai tôi chết rồi sao nữa
Mây vẫn bay và nước vẫn xuôi

(Giải Mây Trôi)

Qua hai trích đoạn thơ vừa dẫn, nhà thơ sử dụng đại từ “tôi” để diễn tả những suy gẫm của mình, không phải về tình yêu hay quê hương, mà về định mệnh, về hư vô, về vô thường, về lẽ tử sinh. Nghe xao xuyến, khắc khoải,  đượm mùi triết lý. Đó là sự trở về với bản thân, đúng hơn, trở về với  thân phận con người.

Tương tự, nhiều trong số những bài thơ của “Thơ Trong Tay Áo”  là thơ của phận người, về phận người và cho phận người. Tôi gọi là “thơ thân phận.”

Cũng sử dụng đại từ “tôi,” “Trong Gương” nói về tác động của dòng thời gian trên bản thân một cách cụ thể:

Tôi nhìn tôi trong gương
hai tôi hay là một?

…Thời gian là giám khảo?

“Tôi” không những khác, mà đã là người khác.

Nhưng  đa phần, Trần Mộng Tú sử dụng cách nói phiếm chỉ, không có đại từ.

Cũng nói về sợi tóc và sự thay đổi của nó như một cách hình dung nỗi đời biến thiên (trong Gió Mùa), nhà thơ dùng hình ảnh mâu thuẫn giữa mưa và nắng:

Những hạt mưa lên tiếng
Gọi mãi sợi tóc về

Tóc đã đi theo nắng…

(Mưa)

Hoặc trong một ngữ cảnh khác hình tượng hơn:

Sáng nay ra phố gội đầu
Giọt mưa sợi tóc ôm nhau khóc òa

(Lục Bát Đôi Dòng)

Ở một số bài, thay vì “tôi,” Trần Mộng Tú sử dụng chữ “mình” hay chữ “Ta,” để chỉ sự bào mòn của thời gian trên hành trình sống của bản thân: biến dạng.

Mình nhìn mình trong gương
Thấy một người vừa quen vừa lạ

Tiếng ai gọi, Tú Ơi

(Trong Gương)

Cũng thế, trong “Khung Cửa Sổ”, nhà thơ đi thẳng vào vấn nạn nhân sinh muôn thuở với câu hỏi: Ta là ai?

Nhìn ra vách đá bốn mùa
bức tranh mưa nắng sáng trưa mỗi ngày

lá hoa chim chóc đổi thay

Riêng Ta có phải Ta ngày cũ không?

“Nằm Mơ” cho ta một cái nhìn sòng phẳng về lẽ tất yếu của cuộc nhân sinh.Trần Mộng Tú, ở đây,  không cần nói xa nói gần, nói bóng nói bẩy, mà cụ thể, gọi đích danh hiện tượng lão hóa:

Trong mơ thấy mình trẻ
thức dậy thấy mình già

Muốn nằm xuống mơ lại

Trên gối tóc trắng phau

Không những thế, Trần Mộng Tú còn đi xa hơn, trực diện với cái chết:

Có người nói khi nằm trong đất
Da thịt tan nhưng tóc vẫn còn

Em sẽ giấu thơ vào trong tóc

Cho người cải táng được tay thơm

(Tay Thơm)

Chết mà vẫn cứ lãng mạn như thường.

Sống, làm thơ. Chết, giấu thơ.

Bìa sau tập thơ “Thơ Trong Tay Áo.” (Hình: Trần Doãn Nho)

Nhưng “Thơ Trong Tay Áo” không chỉ thế. Vẫn còn đeo đẳng chữ “tình.” Tình không bao giờ bỏ chị. Chị cũng không bao giờ bỏ tình.  Nhưng tình ở đây mang vóc dáng  khác. Trước hết, đại từ “em”, và nhất là đại từ “anh,” xuất hiện khá hiếm, gần như không đáng kể. Mà nếu có, chúng cũng mang hơi hướm khác.

Ờ thì có giọt đắng hơn
Em nghiêng tách xuống rót buồn sang anh

(Cà Phê)

Ngôn ngữ và hơi thơ, tuy vẫn tình, nhưng nghe ra không sôi nổi, táo bạo, cuốn hút, tình tứ và da diết như ngày xưa.

Thôi thì pha cho loãng ra
Chút ngọt chút đắng hai ta chia đều

(Cà-Phê Sáng)

Đọc lên nghe rất tình cảm, nhưng là một thứ tình cảm dịu dàng, đầm ấm, chia sẻ, vương vướng chút bùi ngùi. Ở một bài khác, nhà thơ nói đến tình yêu như quan sát một sự vật khách quan nào đó ở bên ngoài. Đúng hơn, đó là một cách nhìn, một cách mô tả về quá trình phát triển và dừng lại của cái được gọi là “ái tình”:

Mùa Xuân tình mới bắt đầu
Mùa Hạ rám cánh con sâu ái tình

Tưởng rằng Thu sẽ hồi sinh

Mùa Đông ập tới ái tình đóng băng

(Đổi Giờ)

Cũng thế, bài dưới đây cũng là thơ tình, nghe bâng khuâng, nhưng đọc kỹ, ta sẽ thấy chủ yếu là một mô tả hay một diễn giải về tình yêu. Nó gợi nên ý tưởng, nhưng không nhằm đánh thức cảm xúc:

Áo khăn về gọi mùa Đông
Tình yêu gọi ngực từ trăm năm về

Ngực trăm năm đã bỏ đi

Áo khăn Tình ấy còn gì chưa phai

(Áo Khăn)

Cũng “ngực” như thuở xưa, nhưng không phải “lồng ngực em” trong bài Gọi Anh Mùa Xuân ngày trước. Hai chữ “áo khăn,” “ngực” ở đây chỉ là cách nói hoán dụ, lấy bộ phận để tượng trưng cho một toàn thể là “người tình,” trong một cuộc tình nửa đường đứt gánh.

Để nhìn thấy sự khác biệt giữa hai thứ “tình,” ta thử so sánh bài thơ sau đây:

Mặt trời gay gắt quá
Nên không soi rõ em

Đốm lửa trong mắt anh

Một đời em soi suốt

(Mặt Trời)

với một đoạn trong bài thơ tình chị làm cách đây gần hai chục năm:

Ngày hạ chí như có ngàn nến thắp
soi buổi chiều trong suốt hồn em

anh đứng đó như mặt trời không tắt

tự nhóm than nung đỏ đời mình

(Ngày Hạ Chí)

Hai mặt trời khác nhau, hai “em” cũng khác nhau. Tình yêu trong  “Mặt Trời” mạnh mẽ, bền vững nhưng thiếu cái nồng nàn, cháy bỏng và hấp dẫn của “Ngày Hạ Chí.”

Cuối cùng, hãy đọc bốn câu thơ sau đây, mà tôi cho là thấm thía nhất trong “Thơ Trong Tay Áo”:

Môi khô ghé xuống má nhăn
nở tung một đóa vĩnh hằng cho nhau

Mắt trong mắt thấy bể dâu

nhặt ra một chút bể dâu pha trà

(Pha Trà)

Thì vẫn môi, vẫn má, vẫn mắt, vẫn vân vân. Nhưng bây giờ, môi không mọng, má không hồng, mắt không trong. Nhìn nhau, người này đã nhìn thấy cái “vĩnh hằng,” cái “bể dâu” trong mắt người kia. Đây là thứ tình yêu đã được chưng cất qua thời gian, qua những thử thách của cuộc thăng trầm. Nó giống như bình rượu cất ủ lâu năm, cái nồng, cái cay, cái tươi, cái hăng không còn nữa. Hơi tình dần dà dịu lại. Nhưng đây không phải là nỗi tuyệt vọng, mà là sự nhìn nhận và chấp nhận cái lẽ bình thường của cuộc nhân sinh, cát bụi, theo cách nói của Trịnh Công Sơn. Uống một “cốc trà bể dâu” là thưởng thức mùi vị đậm đà của tình yêu miên man chảy dài theo dòng thời gian.

Đây là tình đôi lứa. Đôi lứa đó nhất định đã từng lãng đãng, chấp chới, buông thả, đã từng nồng nàn, say đắm, tham lam, đã từng níu kéo, dỗi hờn, táo bạo, liều lĩnh.

Chỉ khác một điều,  nói theo người Trung Hoa, “thương hải biến vi tang điền” (biển xanh đã biến thành nương dâu = cuộc biển dâu).

Dẫu vậy, họ đã đi suốt, đi trọn, và tiếp tục đi cho đến mốc cuối của cuộc hành trình nhân sinh.

Không phụ bạc, không tan vỡ, không dang dở, không phôi pha.

Chỉ lửng lơ đâu đó một câu hỏi:

Tôi ở đâu mà tôi tới đây
Ngày xưa ai đứng ở chỗ này

Hạt sương Trời khóc ngàn năm trước

Sao còn ướt trên lưng bàn tay

(“Bài Thơ Tháng 12,” trang bìa sau)

Trần Mộng Tú hỏi, hỏi chỉ để hỏi, mà không trả lời.

Bài thơ làm tôi không khỏi nhớ đến Trần Tử Ngang trong “Đăng U Châu Đài Ca”:

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

Độc sảng nhiên nhi thế hạ.

Trần Trọng San dịch:

Ngoảnh lại trước, người xưa vắng vẻ
Trông về sau, quạnh quẽ người sau
Ngẫm hay trời đất dài lâu
Mình ta rơi hạt lệ sầu chứa chan.



Trần Mộng Tú sinh năm 1943 tại Hà Đông. Năm 1954, theo gia đình di cư vào Nam, sinh sống tại Sài Gòn. Sau 1975, bà di tản sang Mỹ, định cư ở Seattle, tiểu bang Washington. Bà viết văn, làm thơ, cộng tác với nhiều báo và tạp chí ở hải ngoại như Người Việt, Làng Văn, Văn Học, Văn, Thế Kỷ 21, Hợp Lưu… Đã xuất bản nhiều tác phẩm, trong đó có: Thơ Trần Mộng Tú (thơ), Câu Chuyện Của Lá Phong (tập truyện ngắn), Để Em Làm Gió (tập thơ), Cô Rơm và Những Truyện Ngắn Khác (tập truyện ngắn), Ngọn Nến Muộn Màng (tập thơ), Mưa Sài Gòn Mưa Seattle (tạp văn), Thơ Tuyển Bốn Mươi Năm (thơ), Vườn Măng Cụt (truyện ngắn và tản văn), Để Em Làm Gió (tập thơ).

 


 

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT