Nhớ Đinh Cường, đọc thơ anh

Trần Doãn Nho

Ngày 7 Tháng Giêng, 2026 vừa qua là kỷ niệm 10 năm ngày họa sĩ Đinh Cường đi vào cõi xa…

Trần Doãn Nho và Đinh Cường, Tháng Mười, năm 2015. (Hình: Trần Doãn Nho)

Phạm Cao Hoàng gọi Đinh Cường là một “hiền sĩ.”

Thấy người hiền sĩ ấy
trong tịch mịch im lìm
(Nhớ anh Đinh Cường, 10 năm)

Tôi gọi anh là một “nhẹ nhàng.” Là một nghệ sĩ lớn, nhưng anh không ồn ào, ngược lại, bình lặng, thân thiện. Bản thân anh đã có cái gì rất bạn bè. Trong những cuộc gặp gỡ, anh như hòa tan giữa mọi người. Với mọi người. Anh rất chung. Giao du với anh từ hồi còn ở Huế, và cả sau này khi qua Hoa Kỳ, lúc nào anh vẫn thế, vẫn rất đinh cường.

Là một họa sĩ và là một nhà thơ, thực tình, tôi không rõ hai lãnh vực thi và họa ảnh hưởng nhau như thế nào trong tâm hồn anh khi sáng tác. Xem tranh anh và đọc thơ anh, tôi chỉ thấy tranh là tranh và thơ là thơ, không bên nào “lấn sân” bên nào. Có lần, anh viết:

Vừa ngưng vẽ xong. tay lên phím gõ
như thói quen. chưa biết viết gì đây
đừng như mấy tảng màu chôn dưới lớp
xám xanh kia như sa mạc buồn tênh 

tay cứ gõ chữ gì đây nối tiếp
rừng tối rồi đâu thấy bóng hình ai
tiếng chim kêu rất nhỏ ở bên ngoài
như rủ ta theo ánh sao vừa mọc 

màu và chữ hai bên như có khác
nhưng làm sao cắt nghĩa được đây
chỉ có Sơn Núi may ra mới thấy
Ô hay. Trăm năm vốn hồn tôi bay… [thơ Nguyễn Đức Sơn, tức Sơn Núi]
(Hồn Tôi Bay, 2014)

Thì ra thế: hồn tôi bay. Màu và chữ đều xuất phát từ những cảm hứng không “làm sao cắt nghĩa” được. Vô ngôn!

Thơ của anh xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ ngay từ khi anh còn theo học hội họa. Hãy đọc một vài trích đoạn thơ được anh sáng tác từ khi đang còn theo học trường mỹ thuật, đi trên “Mai,” một trong những tạp chí văn học nghệ thuật hàng đầu của Sài Gòn đầu thập niên 1960 (do Trần Hoài Thư sưu tập).

*hải đăng làm mắt chong
anh ngồi trên cát lạnh
em giờ xa ngàn trùng
chiều ơi chiều xuống chậm
mây bay qua chập chùng
gió lưng đèo thổi mạnh
mưa trên đèo đó nhung
anh còn đi biền-biệt
những ngày qua ngày qua
con ngựa hồng đã chết
anh hát bài sahara
sa-mạc mờ bụi đỏ
cát bỏng bàn chân này
nửa mặt mình lệ chảy
nửa mặt mình máu vây
còn chi mà nói nữa
em đưa anh cầm tay
(Nửa Mặt)

*anh vẫn trở về đêm khuya thắp hàng bạch lạp tách nước trà nguội như căn phòng có nhiều vết loang anh đồ lên thành khuôn mặt em hai mắt to đen là nh. với chiếc trâm cài trên tóc.
con đường buổi chiều là tấm thảm anh đưa em về với tiếng hát của trang sương mù vữa trên dãy núi xa còn lại một tí mặt trời sáng dịu như màu áo dài xanh non em phơi rồi để quên
là nh. với dáng vai gầy bắt được (Vĩnh Viễn)

*khi nàng mở mắt to nhìn lên
mây hãi hùng đổ xuống
và gió, gió trên đồi cao
chàng và nàng chạy đuổi
bằng chân không.
ngoài bờ sông những ngọn đèn sáng lên, vai cầu trắng
thành phố sương mù
nàng gầy như lau sậy
tóc nàng mắt nàng
với mầu áo lụa đen chàng lẩn trốn
chàng quên hết
đó là siêu hình riêng của chàng
hạnh phúc dịu dàng như đồng cỏ
nàng hát buổi chiều như sao băng
(Valse)

Ngôn ngữ, hình thức, kết cấu cũng như nội dung của những bài thơ tình này rõ ràng thấm đẫm không khí mới mẻ của xu hướng cách tân văn chương thời đó, khởi đầu bằng tạp chí “Sáng Tạo.” Nghe vang vang hơi thơ của những Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn, với hình ảnh và ví von sống động chen lẫn những khắc khoải hiện sinh về tình yêu và thân phận. Lại nghe có chút gì lãng đãng, hồn nhiên, dịu dàng, phảng phất không khí của thơ tình Nguyên Sa. Cũng như các bức tranh thiếu nữ của anh, thơ anh hiền, nhẹ, không gây “sốc,” nhưng khiến ta mãi day dứt, băn khoăn.

Về sau này, anh làm thơ càng ngày càng nhiều. Đủ loại: lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn và thơ tự do.

Trắng rừng. tuyết vẫn còn rơi
bên kia bạn thức dậy ngồi giữa đêm
nói rằng xa quá. xa xăm
ới nhau một tiếng. vọng âm giữa trời
nơi này chiều. xế chiều thôi
tuyết rơi xiên. tuyết trắng trời lạnh căm
(Vọng Âm)

Và một điểm rất dễ nhận ra: thơ anh càng ngày càng hiện thực, càng cụ thể, và càng đi gần với văn xuôi. Không mấy ví von, ẩn dụ. Nhất là trong những bài thơ xuôi: rất chi tiết, rất đời thường.

tiếng còi tàu làm nhớ lại
khi tàu đi ngang qua ga Truồi vô Huế
cũng đi ngang qua nơi tôi ở
trong con hẻm nhỏ bên bờ sông Bến Ngự
tôi thuê một phòng rộng làm xưởng vẽ
của gia đình làm nghề chằm nón
cô gái ngồi chằm chiếc nón lá chăm chỉ đến chiều tà
lúc tàu đi ngang qua hú còi báo hiệu đến Huế
thì cô ngừng tay chờ mẹ bên chợ Đông Ba về

Anh không làm thơ. Anh đưa đời sống vào trong thơ. Anh biến đời sống thành thơ. Đoạn kết của bài thơ này, “Tiếng Còi Tàu Chiều Tuyết Mù Trời,” nghe rất nao lòng:

Và sao tuổi già dễ rươm rướm nước mắt
(tuổi già hạt lệ như sương)
chỉ nghe tiếng còi tàu hụ đi ngang qua Burke
đã ở nơi này mới đó hai mươi năm
bao nhiêu buổi chiều tàu đi ngang qua không nhớ
Mà sao chiều nay ngồi gõ những dòng này.

Đinh Trường Chinh, con trai Đinh Cường, cũng là một nhà thơ, nhận xét về thân phụ mình:

“Ngoài tài năng và niềm đam mê hội họa, Ba tôi còn có niềm đam mê thi ca. Ông làm thơ rất nhiều và rất sớm, thi thoảng đăng trên báo Mai, Bách Khoa, Văn,… ở Sài Gòn trước 75. (..) Từ khoảng sáu năm cuối đời, ông chuyển sang làm-thơ-hàng ngày. Như một người viết nhật ký hay viết blog, Ba tôi làm thơ và đăng thơ hầu như mỗi ngày. Vâng, đó là chất thơ Đinh Cường. Một loại thơ rất riêng và đậm chất con người Ba tôi. (…) Làm thơ như thế, cũng là một cách để Ba tôi chống chọi với căn bệnh, chống chọi với những phản ứng phụ gay gắt của thuốc mà một người bình thường sẽ rất dễ cáu gắt. Ông đối phó với căn bệnh hiểm nghèo như vị thiền sư. Ông biết cách nhẫn nhịn với những điều xấu xảy đến với mình. Làm thơ nhiều, cũng vì Ba tôi không còn nhiều sức để vẽ. Vẽ, với giá tranh, đòi hỏi phải có những thao tác cúi lên, gập xuống, pha màu, rửa cọ làm đau người. Lâu lắm, ông mới vẽ một bức. Màu sắc tươi vui. Rồi dần dần bỏ vì quá mệt thân xác.”

Anh đã dùng “thi” thay “họa” để nói lên tâm cảm của mình.

“Và Một Buổi Gặp Gỡ Đông Vui Trưa Thứ Bảy Ở Nhà Trương Vũ” là một trong những bài-thơ-hàng-ngày, diễn tả cảnh bạn bè họp mặt ở nhà Trương Vũ, một bạn văn và bạn họa thân thiết của anh:

Một bạn nào đó nói, các buổi gặp gỡ khác
càng ngày càng ít người thì ở Trương Vũ
càng ngày lại càng đông. thật vậy. vẫn chiếc
bàn thật dài trải khăn trắng đầy thức ăn
(…) không khí ấm cúng. như một salon littéraire
của những chiều cuối tuần Virginia thơ mộng.
Một thứ văn xuôi nhiễm thơ.

Bài thơ này được làm từ cảm hứng của buổi “gặp gỡ đông vui” diễn ra vào trưa Thứ Bảy, ngày 24 Tháng Mười, 2015, tại nhà Trương Vũ. Trong buổi họp mặt này, ngoài vợ chồng chủ nhà và Đinh Cường, có sự hiện diện của nhiều bạn bè: từ xa đến như Nguyên Minh, Lữ Kiều cùng anh chị Trương Văn Dân-Elena Pucillo (Việt Nam), anh chị Lữ Quỳnh (California), anh chị Trần Doãn Nho (Massachusetts) và quanh quanh vùng Washington, DC như Nguyễn Văn Vinh, Phùng Nguyễn, Phạm Nhuận, Nguyễn Tường Giang, Đinh Từ Bích Thúy, Nguyễn Thị Thanh Bình, anh chị Nguyễn Minh Nữu, anh chị Phạm Cao Hoàng. Dù đau, anh cụng rượu và trò chuyện vui vẻ với bạn bè, khuôn mặt vừa thiền vị vừa trẻ thơ.

Trong một bài thơ khác, “Nửa Khuya Thức Dậy Thấy Bạn Đâu Hết,” anh nhắc lại cuộc gặp gỡ đó:

Nửa khuya gió chạy bên thềm
nửa khuya thức dậy vẫn im dáng ngồi
bạn bè đâu hết rồi sao
gặp nhau dăm bữa đường nào nấy đi
Đúng là “đường nào nấy đi”!

Hai tháng rưỡi sau đó, ngày 7 Tháng Giêng, 2016, anh ra đi.


Đinh Cường tên thật là Đinh Văn Cường, sinh năm 1939 tại Thủ Dầu Một. Học sinh trường Trung Học Pétrus Ký, Sài Gòn. Tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế và Giáo Khoa Hội Họa Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định. Năm 1966, cùng với các họa sĩ Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Mai Chững, Hồ Thành Đức và Trịnh Cung thành lập “Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam.” Trong thời gian từ 1962 đến 1975, Đinh Cường đã thực hiện trên 20 cuộc triển lãm chung và riêng tại Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn, Ðà Lạt, Pleiku, Nha Trang. Sau 1975, anh tham gia trưng bày tranh với họa sĩ Bửu Chỉ, Đỗ Quang Em tại Sài Gòn. Năm 1989, định cư tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ. Trong thời gian từ 1990 đến 2010, anh có nhiều cuộc triễn lãm ở các tiểu bang Virginia, Washington, DC, Texas (Hoa Kỳ), Montréal (Canada), và Paris (Pháp).

Ngoài hội họa, Đinh Cường còn sáng tác thơ, viết tiểu luận hội họa và tạp ghi đăng trên các tạp chí văn học nghệ thuật ở Sài Gòn trước 1975 như Mai, Văn, cũng như các tạp chí hải ngoại sau này như Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Thư Quán Bản Thảo.

Sách đã xuất bản: “Cào Lá Ngoài Sân Đêm” (thơ, Thư Ấn Quán, Hoa Kỳ), “Tôi Về Đứng Ngẩn Ngơ” (thơ, Quán Văn Sài Gòn 2014), “Đi Vào Cõi Tạo Hình I” (tiểu luận hội hoạ). Ngoài ra, anh còn đóng góp vào các tác phẩm “Trịnh Công Sơn: Cuộc Ðời-Âm Nhạc-Thơ-Hội Họa & Suy Tưởng” (Sài Gòn, 2001), “Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975-1995” (Hoa Kỳ, 1995) và “Trịnh Công Sơn: Thư Tình Gửi Một Người” (Sài Gòn, 2011).


 

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT