Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – Bùi Bích Hà sinh trưởng ở Huế, tôi cũng sinh trưởng ở Huế, nhỏ hơn chị nhiều tuổi. Chị và tôi là đồng hương, nhưng tôi “huế” hơn chị một chút vì nội, ngoại tôi là dân Huế lâu đời còn nội, ngoại chị đều ở miền Bắc. Chả thế mà nhà văn Ngự Thuyết gọi chị là một “cô Bắc kỳ nho nhỏ,” nói “giọng Hà Nội nghe thật nhẹ nhàng, trôi chảy, êm ái.”

Thân phụ chị người Bắc, làm ăn lớn, có cơ ngơi nhiều nơi từ Bắc vào Trung. Nhà ông ở khu Gia Hội, tọa lạc “trong một khu vườn thâm u, kín cổng cao tường,” “nhìn ra một cánh đồng khá rộng” với những ruộng lúa xanh rì, “đến mùa lúa chín, là cả một cánh đồng vàng,” theo nhà văn Ngự Thuyết, một người cùng thời với chị (Giã Từ Bùi Bích Hà). Ngoài ngôi nhà này, ông còn một ngôi nhà nghỉ mát do ông “tự trông nom cho thợ xây cất trên đỉnh một ngọn đồi trong rặng núi Bạch Mã.” (Mùi Cà Phê Của Bố/Bùi Bích Hà)
Có lẽ do tính cách pha trộn này, Bùi Bích Hà khi viết về Huế, một mặt, văn chương chị là một Huế chất ngất, một Huế tràn trề, nhưng mặt khác, lại không giống hẳn văn chương của những nhà văn “Huế-chay” khác viết về Huế. Tôi cho rằng chị vừa như một người Huế viết về quê hương mình, lại vừa như một người yêu Huế viết về Huế. Vừa đứng trong Huế vừa đứng ngoài Huế, cụ thể, thì là vừa Bắc Kỳ vừa Huế.
Thử so sánh cách mô tả mùa Đông ở Huế giữa Bùi Bích Hà:
“Tiếng mưa lúc cao lúc thấp lúc đục lúc trong, tiếng mưa im lìm trên những lối đi đầy cỏ, tiếng mưa cô đơn phiền muộn trên những tàu lá rộng, tiếng mưa lạnh lẽo dưới đầu hồi, tiếng mưa thầm thì, rời rã, trong trái tim bàng hoàng những mộng ước không thành.” (Huế Yêu Dấu)
Và một nhà văn Huế khác, Túy Hồng:
“Những đêm mùa Ðông, những con ‘ệng oạng’ kê mõm khắc khoải kêu khan từ những ao rau muống… Kêu chi mà khổ, mà trầm thống! Thêm vào đó, tiếng rao hàng dài lê lết: mua trứng lộn! mua trứng lộn… Trời ơi! tiếng kêu của miếng ăn sao mà buồn đến thế! Nhức xương buốt tủy mất! Tưởng tượng mở cửa kêu vào chắc mình phải ôm cô hàng trứng mà khóc ngất!” (Xin Lỗi Huế)
Rõ ràng là mỗi người một vẻ. Giống và khác. Văn Túy Hồng trực tiếp, nói ngay nói thẳng; văn Bùi Bích Hà mang mang, xa xa gần gần. Huế của Túy Hồng nằm trong ngôn ngữ; Huế của Bùi Bích Hà nằm trong ý tứ.
Dù gì thì gì, Bùi Bích Hà sống tuổi thơ, tuổi học trò và tuổi trưởng thành ở Huế, cho nên không lạ gì, Huế đeo đẳng và ám ảnh chị suốt cuộc đời.
“Cho đến bây giờ, mặc dù hơn một nửa tháng năm của đời người đã trôi qua trong ngăn cách và lãng quên, vậy mà mỗi khi nghĩ về Huế, tôi không khỏi bồi hồi xúc động, như thể tôi với Huế là đôi người tình lỡ trong ca dao Việt Nam.” (Huế Yêu Dấu)
Với chị, “Huế không bao giờ để quên hay để nhớ, dẫu đã xa xôi muôn trùng trong không gian và thời gian, mà một đời đeo đẳng. Ngày tháng lung linh kỷ niệm là những mảnh puzzles nhiều màu sắc, đan kết vào nhau chặt chẽ, làm nên hình hài và cuộc sống tôi, không thể tách rời. Đôi lúc, nhớ thương như cường toan rót vào ký ức, cháy thịt da, trào nước mắt, tôi một mình khóc giữa hư vô.” (Mai Tôi Về Huế)
Dẫu vậy, do những uẩn khúc trong gia đình, mà chị vẫn thường thẳng thắn viết ra đây đó trong những tùy bút về Huế, nên dòng tình cảm Huế của chị thường pha trộn: hình ảnh tích cực hòa lẫn trong nhiều nét tiêu cực.
Chị cho biết: “Tôi ra đời và lớn lên ở Huế, là đứa con cuối cùng của một người đàn ông ba vợ vì hiếm muộn. Từ khi lớn khôn, tôi chưa bao giờ thấy bố mẹ tôi nói chuyện với nhau một lần, ăn chung một bữa cơm hay cùng đi đâu ra ngoài. Mẹ tôi gọi hai bà vợ lớn của cha tôi bằng me, tôi gọi mẹ tôi bằng chị” (Huế Yêu Dấu).
Có lẽ vì thế, “Tôi có một tuổi thơ buồn. Rất buồn. Nhưng tôi cũng có một tuổi thơ đẹp. Rất đẹp.” (Mùi Cà Phê Của Bố). Nên “xa huế thì thương thì tiếc,” nhưng sống với Huế thì “sầu thì hận, thì đau thương chất ngất,” thì “oan khiên lệ nhòa đôi mắt,” thì “tuổi xanh héo mòn như cỏ úa.” Bùi Bích Hà, quả là một trời tâm sự!
Huế trong văn chương Bùi Bích Hà gần như không thiếu một thứ gì. Chị nói về vô số điều, vô số chuyện mà điều nào, chuyện nào cũng chi li và đậm đà. Không những chỉ về những chi tiết linh tinh lỉnh kỉnh mà còn chi li cả về những xúc cảm, xuất phát từ sự suy gẫm của chị về những gì nằm khuất sau cái vẻ bề ngoài hồn nhiên, vô tư của chúng.
Chị viết về hoa trái trong vườn, nào vải, chanh, nhãn, nào ổi xiêm, nào khế ngọt, vải trạng, lựu; viết về nắng Hè, mưa Đông, về những chuyến đi chơi thuyền trên sông Hương, về bắp cồn; về cảnh học trò đạp xe đạp đi học, về tình yêu trai gái nảy nở bên hàng chìa tàu, về đồ ăn Huế với miếng dồi trường “trắng, dòn, thơm, thanh cảnh” hay gạo de An Cựu ngon không đâu sánh bằng; viết về “những cây nhãn lồng chi chít mo cau,” về con gái Huế lội nước lụt đến trường, “gót chân hồng trên những chiếc guốc vông màu trắng.” Vân vân và vân vân.
Những gì chị viết ra về Huế quá nhiều, quá rõ, quá đầy đủ khiến tôi đọc mà muốn ngộp thở. Có nhiều thứ khác mà nếu chị không nhắc đến, có lẽ không bao giờ tôi còn nhớ, như: (nộm) gỏi hoa cau, canh măng chua nấu cá ngạnh nguồn, chè đậu ngự; thuốc Tiêu Ban Lộ, tôm càng kho tiêu, tiếng con chim “từ quy” (1) kêu thương suốt đêm quanh nhà mà không hề thấy hình dáng, hay về những cô gái gánh nước đêm, “trời tối mà vẫn đội nón vì sợ người ta nhìn thấy nụ cười và đôi mắt.”
Bùi Bích Hà có những cách diễn tả Huế lạ và bóng bẩy, nhưng lại chính xác không chê vào đâu được. Chẳng hạn chị so sánh thành phố Huế ngày thường “êm ả như một cô gái phòng khuê;” hay khi nghe tiếng ve kêu, “tâm hồn bỗng náo nức một nỗi thúc giục phiền muộn, muốn đi đến một nơi nào xa hơn cái chân trời thấp ở cuối những thửa ruộng đằng trước nhà;” chẳng hạn chị diễn tả tiếng ve mùa Hè “gọi nhau đứt hơi,” hay những sáng tinh mơ “tiếng gà gáy trong sương gọi nắng hồng” hay những “mùa trăng hoa rất thơm và đêm rất xanh.” Đọc những dòng này, tôi thấy Huế của tôi vô cùng lạ nhưng quả thật, lại hết sức quen.
Văn của chị nhịp nhàng, nhiều hình ảnh và gói ghém trong đó là một thứ tình cảm vừa chơn chất lại vừa sâu đậm. “Có lưng áo mẹ đẫm mồ hôi trong khu vườn rộng nồng nàn mùi cây trái. Có tiếng gậy gõ xuống mấy bậc thềm và hình ảnh cha râu tóc bạc phơ, tựa cửa ngóng con về khi ngày hết và hoàng hôn xuống trên cánh đồng nâu trơ gốc rạ, trải mình đến tận Bao Vinh.” (Mai Tôi Về Huế)
Thú vị nhất là khi Bùi Bích Hà diễn tả con gái Huế.
-“Con gái Huế gội đầu bằng nước sông Hương, bằng bồ kết và lá chanh, lá bưởi, dòng tóc nuột nà buông xuống hai vai mùi hương cỏ cây huyền hoặc.” (Huế Yêu Dấu)
-“Con gái Huế ấm như nắng Hè, thơm ngọt như mật ong, óng mượt như tơ tằm, thanh bai như nhành lệ liễu và con gái Huế sắc như dao, lạnh như mùa Đông, can trường như đá núi, thâm trầm như biển sâu. Gặp rồi không thể không yêu, yêu rồi cuộc tình sẽ là một vết thương thiên thu.” (Mai Tôi Về Huế)
-“Mùa Hè, lũ con gái áo trắng đi xe đạp thành từng đoàn, tóc thề lộng gió, nghiêng chao vào nhau (…) tiếng cười tiếng nói ríu rít như tiếng chim chuyền.” (Huế Yêu Dấu)
-“Con gái Huế lội nước đến trường, quần xắn khỏi gối, gót chân hồng trên những chiếc guốc vông màu trắng. Có cô mặc áo mưa bằng lá, nuơc dọt lướt thướt trông như một con ve sầu ốm vì mùa Hè đã qua.” (Huế Yêu Dấu)
Để diễn tả cái nghèo, cái thiếu của xứ Huế, chị chọn một đề tài ít ai ngờ tới: cái rổ đi chợ: “Trong cái rổ chợ họa hoằn lắm mới có một miếng thịt heo mỏng tanh dài bằng nửa bàn tay, chỗ nạc tươi ửng màu hồng đào trên nền miếng bì trắng nhễ nhại ôm khít vào miếng mỡ trong veo; kỳ dư thường chỉ có một dúm cá cấn bé lăn tăn, màu óng ánh ngũ sắc, mấy con hến còn ngậm miệng thoang thoảng mùi rong tanh, mớ khuyết tươi lốm đốm những cái chấm mắt đen bao giờ cũng khiến tôi lặng nhìn và nghĩ ngợi vẩn vơ về những vùng biển xa. Đôi khi rổ chợ cũng có mớ rau muống, nắm đọt khoai, bẹ dưa nưa, miếng thơm chưa vạt bỏ… Thực phẩm cho ba bữa cơm chỉ quanh đi quẩn lại ngần ấy thứ. Mọi đồ gia vị đều gói trong những cái bồ đài lá chuối: tí mỡ, tí hạt tiêu, tí ớt bột, tí mắm ruốc, miếng đường đen, tí tỏi, cả nước mắm. Không còn cái gì để qua ngày mai hay bữa chợ sau.” (Những Cái Rổ Chợ Xứ Huế)
Chi li, chính xác và tràn đầy tâm hồn và trái tim của môt người phụ nữ. Nó nói lên cốt tủy của cái nghèo, cái thiếu, cái thu vén, tém tủm tội nghiệp nhưng đáng yêu của người phụ nữ những gia đình nghèo xứ Huế. Nó làm người đọc vừa xót xa vừa cảm phục.
Để kết thúc, xin dẫn lại một nhận xét của nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc về văn chương Bùi Bích Hà: “Câu văn của Bùi Bích Hà rất lành, rất hiền, dịu dàng, tha thiết, mang một chút buồn và thơ như những chùm hoa sầu đông nở tím những cửa sổ Huế ngày xưa. Tác giả không phải là một người thích làm dáng. Bà chân thực và thiết tha trong những suy nghĩ và bày tỏ của mình. Câu văn đẹp, ý tứ, và rất ít son phấn. Trong nhiều chỗ, chúng có cái đẹp của những lời văn trong sáng nhưng vẫn làm dấy lên một chút tình trong ‘Bướm Trắng’ của Nhất Linh, và nhất là chúng có cái đẹp tươi tắn và trong sáng như những câu văn của những trang sách ‘Nắng Trong Vườn’ và ‘Gió Đầu Mùa’ của Thạch Lam.” (Bùi Bích Hà – Một Mình Trong Nỗi Nhớ)
***
Ngày 14 Tháng Bảy, 2021, nhà văn Bùi Bích Hà đã từ giã trần gian, đi ra cõi ngoài.
Xin thắp một nén hương, tưởng niệm chị. (Trần Doãn Nho) [qd]
————–
Tài liệu:
(1) Chim “từ quy” (từ = đi; quy= về; đi và về): một loại chim hót hàng đêm, vào khoảng giữa canh khuya, hót cách quãng nhưng liên tục cho đến sáng thì ngưng rồi bay đi đâu không rõ.
Huế Yêu Dấu (Bùi Bích Hà)
Mai (Tôi) Về Huế (Bùi Bích Hà)
Mùi Cà Phê Của Bố (Bùi Bích Hà)
Những Cái Rổ Chợ Xứ Huế (Bùi Bích Hà)
Giã Từ Bùi Bích Hà (Ngự Thuyết)
Bùi Bích Hà, Một Mình Trong Nỗi Nhớ (Bùi Vĩnh Phúc)



























































































