Thúy Hà
HUNTINGTON BEACH, California (NV) – Tôi đoán rằng khi nhà thơ Cao Tần-Lê Tất Điều thốt lên mấy câu “Tưởng ta nhớ chú lắm sao/ Này cây bông giấy bên rào năm xưa…” (bài “Bông Giấy,” Tháng Mười Hai, 1977) là trong những tháng năm đầu sau cuộc di tản 1975 lưu lạc sang xứ người, có thể ông chợt thấy đâu đó bên đường một giàn bông giấy quen thuộc.
Quen thuộc đến rưng rưng. Rưng rưng nhớ một “chú em” từng có mặt cùng mình nơi chốn quê nhà. Bởi vì Cali thiếu chi bông giấy, đi đâu cũng gặp, rực rỡ, um tùm. Nhưng cái “chú em” quê nhà ấy thì thôi không còn gặp được nữa.
Gọi một cây hoa là “chú em” chắc chỉ có ở “ông anh” Cao Tần, ở một nhà thơ đậm tính humour (*) và ở một người đủ thương đủ nhớ về một nơi chốn.
Tôi đoán rằng ai cũng có một cái cây để đủ nhớ đủ thương về một nơi chốn, dù không phải ai cũng có khả năng bật ra thành thơ như Cao Tần.
Elle – con gái tôi – năm lớp Một khi làm “prensentation” giới thiệu cuốn sách ưa thích với cả lớp, nó đã chọn truyện tranh “The Giving Tree” của Shel Silverstein. Hỏi sao con chọn cuốn đó, nó chỉ biết nói: “Vì con thích cái cây!” Ở tầm tuổi nó, cái cây “The Giving Tree” thần diệu đó đơn giản là cái cây to rễ đan thành bọng mà nó và đám bạn hay ngồi vào chơi ở góc sân trường. Đơn giản, cây được nhớ là một Chỗ Ngồi chơi trên mặt đất.

Đơn giản, như tuổi thơ tôi cũng gắn với những cây là cây, ở Sài Gòn. Nhà thì ở hẻm Cây Xoài (hẻm 5A Trần Phú – Nguyễn Hoàng cũ, Quận 5), gần nhà có tiệm Phở Cây Dầu (con gái út chủ tiệm phở học chung lớp cấp hai với tôi), đi chợ thì chợ Vườn Chuối, cuối tuần ba chở ra bùng binh Cây Liễu ngó vòi phun nước…
Đám nhóc hẻm Cây Xoài ngày ấy giờ lưu lạc bốn phương, thi thoảng gặp nhau “tám chuyện” xưa thể nào cũng nhắc chuyện cây: nhắc chỗ chơi “u” dưới gốc xoài giữa hẻm, nhắc chỗ bắn bi trước nhà anh L. có giàn hoa sử quân tử, nhắc khu vườn “khủng” nhà anh P. có đến bảy cây mận, nhắc cây vú sữa tím khổng lồ nhà H., nhắc hai cây mận trắng nhà N. hay bị đám con gái hái trộm, nhắc cây mận hồng nhà tôi nhìn đẹp chứ trái dở òm…
Hôm rồi, anh P. gửi cho tôi hình mới chụp con hẻm, hơn ba mươi năm, mấy căn nhà nhỏ ngày xưa đều đã xây thành nhà mới nguy nga. Nhưng ôi chao, hai cây mận trắng nhà N. vẫn còn đó, cây mận hồng dở òm nhà tôi cũng vẫn còn đó. Như “chú em” đứng đó, rưng rưng.

Cây như người, sinh ra đều mang một sứ mệnh. Một cái cây – chỉ cần giúp cho ai đó neo đậu một nỗi nhớ hay chỉ là chỗ ngồi chơi cho một đứa trẻ thôi – đã là sứ mệnh của nó rồi. Cũng như người “Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời/ Mỗi số phận chứa một phần lịch sử” (Evghenhi Evtushenko) thì cây cũng được nhìn nhận như nhà thơ Đỗ Quý Toàn: “Tôi chưa bao giờ thấy một thứ cây nào xấu xí” (bài “Cây Thanh Lương Trà Ở Làng Cây Phong” – giai phẩm Người Việt Xuân 2018).
Thế nên, chẳng hạn chỉ với cây bông giấy thì nhà thơ Cao Tần gọi cái cây bông giấy bên rào là “chú em,” còn cô Sáu của nhà văn Võ Phiến lại âu yếm gọi cây bông giấy trong vườn nhà là “mày” lúc bà làm vườn trò chuyện với nó (bài “Hình Bóng Cũ” – tuyển tập “Võ Phiến Cuối Cùng”). Rồi loại hoa bình dân ấy phải gắn bó thế nào, phải được nhìn nhận là đẹp thế nào thì mới trở thành hoa biểu tượng (Floral symbol) cho ba thành phố ở tiểu bang Cali này (Camarillo, Laguna Niguel và San Clemente).

Với người Việt ở Quận Cam bây giờ, đi chợ hoa Tết Phước Lộc Thọ ngoài để mua đào, mai truyền thống người ta còn chọn bông giấy bonsai như một loại hoa Tết độc đáo, rực rỡ và lâu tàn. Chậu bông giấy bonsai màu hồng phấn mà tôi bưng về từ chợ hoa Phước Lộc Thọ một chiều 29 Tết đã trở thành quen thuộc trong khoảng “giếng trời” ở căn nhà nhỏ của tôi mấy năm nay. Rồi tôi cũng nhớ nó khi xa nhà như Cao Tần chớ “chú em” bên rào hồi xa xứ. Nhớ, không vì màu sắc hay hình dạng của chúng – mà vì chúng đã là ký ức của ta.
Ký ức con người, dù muốn dù không, thường gắn với cây cỏ một cách tự nhiên. Bạn tôi dân Nha Trang có lần kể: mỗi lần về quê, tới ngã ba Thành Diên Khánh, thoáng thấy bóng cây Dầu Đôi là tim tao đập thình thịch, sắp tới nhà rồi! Một người bạn khác làm báo ở Sài Gòn quê ở Vũng Tàu thì có lần gửi cho tôi tấm hình đường vào thành phố biển bây giờ con lươn giữa lộ trồng toàn bông giấy (lại bông giấy!): “Cứ thấy vạt hoa giấy là biết đã tới Vũng Tàu!”
Tôi chợt nhớ cái giàn bông giấy hồng rực trùm lên một căn nhà trên con đường Lombard uốn lượn trứ danh của San Francisco. Nhìn từ xa hay nhìn trong bất cứ tấm ảnh chụp nào về con đường này người ta đều có thể nhận ra giàn bông giấy ấy. Nó như một chỉ dấu về con đường ấy, để ta nhận ra: Lombard kia rồi!

Như với Little Saigon nơi đang sống bây giờ – một cách tự nhiên, qua bao tháng năm gắn bó tôi cũng có những chỉ-dấu-của-riêng-mình: cứ thấy vạt tigôn hồng bên hông tiệm Bánh Mì Chè Cali đường Brookhurst (gần góc McFadden) là biết là mình đang ở giữa khu tấp nập Việt Nam nhất nhì Sài Gòn Nhỏ; nhìn hàng phượng tím đường Lucky Way (gần góc Euclid-Bolsa) bông trổ như mơ là biết một Tháng Năm nữa lại về; nhìn hai cây vông sừng sững trước khu thương mại Mile Square Plaza (Brookhusrt gần Heil) hồng rực một góc đường là biết mùa Hè đã qua; đi ngang cây lê quen thuộc đối diện cổng trường tiểu học Moffett của con mà thấy “cành lê trắng điểm một vài bông hoa” là biết mùa Tết sắp tới…
Lần về Việt Nam Hè rồi, chúng tôi có ghé thăm lăng Ngô Quyền (Đường Lâm, Hà Nội). Khu lăng mộ bây giờ sau nhiều trùng tu lộn xộn có lẽ chỉ còn hàng duối cổ thụ xanh biếc ở gần đó là vẫn nguyên vẹn với thời gian. Tương truyền đó là nơi vị vua lẫy lừng từng buộc voi chiến và ngựa chiến sau các cuộc tập trận cùng nghĩa quân để chuẩn bị tiến về vùng cửa sông Bạch Đằng đánh đuổi quân Nam Hán. Nhìn hàng duối hơn 1,000 năm tuổi mà xúc động. Thời gian đã đi qua những gốc cây ngọn lá trầm mặc xanh tươi lặng lẽ sống động đó, những cây duối chứng nhân lịch sử, là báu vật của một vùng đất.
Cũng trong mùa Hè rồi ở Sài Gòn, sáng sáng đi bộ ở công viên Gia Định, tôi mới phát hiện toàn bộ cây trong công viên đều được đánh số (để chăm sóc và quản lý). Sau những đợt đốn hạ cây xanh vô trách nhiệm ở thành phố này, người ta đã giật mình khi nhìn lại Hòn Ngọc Viễn Đông từng xanh tươi như ngọc giờ chỉ còn 102,000 cây xanh (được đánh số) chia cho 10 triệu dân – trong khi Singapore có đến 2 triệu cây xanh mà dân số chỉ bằng 1/2 và diện tích chỉ bằng 1/3 Sài Gòn!

Nhìn những thân cây được đánh số tôi bỗng nhớ những cuộc xuống đường kêu gọi bảo vệ cây, buộc nơ cho cây, trình diễn “ôm cây – ôm người ta yêu thương” của nghệ sĩ Ly Hoàng Ly khởi xướng hồi 2016 để bày tỏ thái độ tình cảm của người Sài Gòn với những hàng cây đã/ đang và có nguy cơ sắp mất cùng những ký ức của một thành phố sắp bị xóa nhòa.
Những ngày này, khi tôi ngồi đây nhắc về những tên cây thời tuổi nhỏ của mình trong đó có “bùng binh Cây Liễu” thì những cây liễu ấy cũng đã bị xóa sổ cùng cái bùng binh “giao lộ cổ tích” của bao thế hệ Sài Gòn. Tại địa điểm ấy, một mô hình đài sen phun nước mới được khánh thành đầu Tháng Mười Một, 2019, mà trên mạng xã hội nhiều người đã phản ứng: ban ngày nhìn giống bệ thờ, ban đêm thì giống… bếp ga. Có người đề nghị: “Làm ơn trồng lại mấy cây liễu!” Có nhà báo đăng bài khảo cứu công phu “‘Trả Lại Em Yêu’: Bùng Binh Cây Liễu.” (**)
Nhìn những thân cây ở công viên được đánh số tôi lại chợt nhớ một đoạn trong bài thơ khác của Cao Tần – bài “Chỗ Giấu Kho Tàng”:
“…Trong công viên xưa có chiếc ghế đá
Giờ đẫm mưa chiều hay tươi nắng mai?
Ghế như ngà, bên hàng thông, em nhớ?
Ta bên nhau trên đó những ngày vui”
Những ngày vui của bao kẻ yêu nhau nơi công viên ghế đá hàng cây… mà cây Sài Gòn ngày xưa nếu phải đánh số thì trộm nghĩ vẩn vơ: khéo ông nhà thơ lại càng dễ đánh dấu “chỗ giấu kho tàng” ấy, kiểu như “Ghế như ngà, cây 53, em nhớ?” hay “Ta bên nhau, cây 9, những ngày vui”… Dám lắm!

“Kho tàng” là một biểu tượng trong thơ Cao Tần, được lập lại ở hai bài thơ “Chỗ Giấu Kho Tàng” (Tháng Ba, 1977) và “Kho Tàng” (Tháng Mười, 1977). Trong cái “kho tàng” ký ức đó – tài sản quặn thắt thương yêu của kẻ phải đành biệt xứ đó, cây cỏ quê nhà đã dự phần nâng đỡ hồn người, như một tri kỷ, như một chú em… Điều đó khiến tôi để ý đến thơ ông từ khi bắt gặp “Bông Giấy” dù đây chỉ là bài thơ vỏn vẹn bốn câu mộc mạc. Nó khiến tôi tiếp tục tìm đọc ông – nhà thơ xuất hiện sớm nhất nổi bật nhất, mở đầu cho thời kỳ văn chương hải ngoại chất chứa những tâm tư thương nhà nhớ nước của người Việt tị nạn sau biến cố 1975, đặc biệt là những bài thơ Cao Tần sáng tác và xuất hiện đầy ấn tượng trong thời điểm 1977.
Năm 1977 tôi vừa bảy tuổi. Tuổi chưa biết nhớ một cái cây, chưa biết một cái cây có thể trở thành người bạn, người thân của mình, chưa biết một cái cây có thể là nơi neo đậu của tâm hồn, báo hiệu một quê hương, vẽ ra một ngôi nhà, khơi nguồn một nỗi nhớ, in lại một chỉ dấu, lâu dài…
Bảy tuổi là tuổi con gái tôi hồi lớp Một chọn “The Giving Tree” làm cuốn sách trong buổi “presentation” và chỉ mới nhớ một cái cây như nhớ một chỗ ngồi chơi. Trong khi mẹ nó thì đã kịp ở cái tuổi biết một cái cây không chỉ là một cái cây. Một cái cây có khi là một “kho tàng” với những ai nhận ra nó trên mặt đất mênh mông khúc khuỷu đời mình. (Thúy Hà) [qd]
—–
Chú thích:
(*)“Tính Uy Mua và Nghệ Thuật Trong Thơ Cao Tần,” Đặng Tiến, Văn Việt (http://vanviet.info/tu-lieu/tnh-uy-mua-v-nghe-thuat-trong-tho-cao-tan/)
(**)“‘Trả Lại Em Yêu’: Bùng Binh Cây Liễu,” Phúc Tiến, Người Đô Thị (https://nguoidothi.net.vn/tra-lai-em-yeu-bung-binh-cay-lieu-19364.html)















































































