HÀ NỘI (NV) – Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam nhiều lần nhắc tới nhu cầu phải cải cách hệ thống ngân hàng như một trong những ưu tiên hàng đầu, nhưng những lời hô hào này vẫn ì ạch vì đụng những “nhóm lợi ích” trong guồng máy tài chánh. Bởi vậy, giới chuyên viên kinh tế quốc tế nhiều hiểu biết về Việt Nam có cảm tưởng, chủ trương cải tổ kinh tế của Hà Nội vẫn chỉ nói nhiều làm ít.

Nhân viên đang đếm tiền trong trụ sở một chi nhánh ngân hàng ở Hà Nội bên cạnh
những chồng tiền bó như những cục gạch.
(Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)
Căn bệnh trầm kha của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam ai cũng nhìn thấy. Sau hai thập niên hối hả lập ngân hàng, một nước nhỏ và độc tài như Việt Nam lại có tới 42 ngân hàng thương mại lớn nhỏ. Cung cấp tín dụng dựa trên mối quan hệ và “lại quả,” lại kém về điều hành nên hệ thống ngân hàng ôm rất nhiều nợ xấu.
Năm ngoái, vì lạm phát lên quá cao (hơn 23% hồi tháng 8, 2011) lại thiếu thanh khoản trầm trọng ở nhiều ngân hàng nhỏ, Ngân Hàng Nhà Nước buộc phải loan kế hoạch tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng nội địa.
Nhưng từ đầu năm đến nay, lạm phát đang xuống dần nhờ những biện pháp giới hạn tín dụng, thanh khoản cũng đã nhẹ nhàng hơn.
“Tình hình (thị trường tài chính) có vẻ ổn định phần nào nhờ lạm phát đi xuống. Nên bây giờ họ nghĩ rằng họ không cần phải quá chặt chẽ,” theo nhận xét của Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Thành, một kinh tế gia và giám đốc chương trình giảng dạy về Chính Sách Công tại trường Kinh Tế Fulbright ở đại học Sài Gòn.
Như nhận xét của ông, một lý do khác khiến chế độ Hà Nội không còn hối hả cải tổ hệ thống ngân hàng là “các ông chủ ngân hàng… (những nhóm lợi ích) nằm sau nền kinh tế không cho phép nhà cầm quyền hành động quyết liệt như nắm quyền kiểm soát (ngân hàng đang chết dở), dọn sạch các món nợ xấu rồi bán lại.”
Ngoại trừ 5 ngân hàng có vốn đầu tư ngoại quốc hoàn toàn, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam do một số ngân hàng quốc doanh lớn làm trùm bên cạnh một số ngân hàng nhỏ do vốn của nhà nước (ngân hàng cổ phần) hoặc ngân hàng tư nhân.
Mấy năm gần đây, đám ngân hàng này cho vay những số tiền lớn đầu tư vào chứng khoán và địa ốc. Khi cả hai ngành này tuột dốc, các ngân hàng ôm những món nợ khó đòi khổng lồ. Trong rất nhiều trường hợp, khó đòi có thể hiểu là mất luôn khi các con nợ đã biến mất.
Những con nợ này là ai? Phần lớn là các công ty quốc doanh hay kinh tài đảng đoàn. Dựa vào thế lực đảng và nhà nước, chúng mới có hy vọng tiếp tận nguồn tín dụng của các ngân hàng.
Trừ những ngân hàng quốc doanh lớn được nhà nước chống lưng và bảo lãnh các món nợ, những ngân hàng thương mại cổ phần đều gặp khó khăn thanh khoản, dở sống dở chết.
Sự khó khăn của hệ thống ngân hàng ảnh hưởng dây chuyền đến cả nền kinh tế. Những tháng đầu năm nay, hơn 18 ngàn công ty đã chính thức khai phá sản. Ðây chỉ là số nhỏ trong tổng số gần 100 ngàn công ty đã ngừng hoạt động nhưng không khai báo được mô tả là “chết lâm sàng.”
Trừ phi có các hành động cải tổ hệ thống ngân hàng một cách quyết liệt để dọn sạch các ngân hàng dở sống dở chết, “cả nền kinh tế sẽ chịu hậu quả,” theo Tiến Sĩ Thành.
Một trong những cách đối phó hợp lý nhất, theo ý kiến của Tiến Sĩ Jonathan Pincus, kinh tế gia giảng dạy chương trình kinh tế của Ðại Học Harvard ở Sài Gòn, là “nắm quyền kiểm soát các ngân hàng yếu kém, sát nhập một số ngân hàng lại với nhau, bán các món nợ xấu, rồi bán các ngân hàng sau khi đã sát nhập.”
Thi hành “Ðiều này sẽ nhanh hơn và ít nguy hiểm hơn cho cả hệ thống (tài chính). Tuy nhiên, các chủ ngân hàng chống lại biện pháp,” Tiến Sĩ Pincus nói.
Muốn có được một giấy phép mở ngân hàng ở Việt Nam, theo một nhà ngoại giao, anh phải “có mối quan hệ rất tốt” với những kẻ có quyền lực. Làm chủ ngân hàng có nghĩa là anh có cơ hội ăn hối lộ của những kẻ đến xin cấp tín dụng và ngân hàng của anh có cơ hội tiếp cận được ngồn vốn giả rẻ.
Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam lại là các công ty con (có thể hiểu là sân sau của đại gia nhiều quyền lực trong đảng) của những tập đoàn hay tổng công ty quốc doanh. Hoặc chúng lại có quan hệ chặt chẽ với một số nhà đầu tư tài chính trong nước có cổ phần ở nhiều ngân hàng khác nhau, tránh né được các luật lệ kiểm soát ngân hàng với các trò kế toán bề ngoài hợp pháp.
Pincus cho rằng hệ thống ngân hàng tại Việt Nam rất phức tạp với tình trạng làm chủ tròng tréo mà nếu muốn tháo gỡ khó khăn cho chúng, với ý chí chính trị yếu thì không làm nổi.
Vì thế, người ta sẽ không khó hiểu khi thấy Ngân Hàng Nhà Nước chỉ khuyến khích các ngân hàng yếu kém “tự nguyện” sát nhập với nhau. Ngân hàng mạnh hơn sẽ nuốt các ngân hàng nhỏ hơn và đối phó với cái phần nợ xấu.
Tuy nhiên, nhiều ngân hàng ở Việt Nam công bố gian dối bản tường trình kết toán tài chính cũng như che đậy các món nợ xấu, Tiến Sĩ Pincus nói với thông tấn AFP.
“Ngân hàng này cho khách hàng của ngân hàng khác vay tiền. Những người này lại dùng tiền đó trả nợ cho những món nợ ở ngân hàng khác. Khách hàng của các ngân hàng khác lại cũng làm như vậy đối với họ. Nhờ vậy mà người ta thấy tỉ lệ nợ xấu ở các ngân hàng ở mức độ thấp hơn,” Tiến Sĩ Pincus nói.
Ngân Hàng Nhà Nước đã chia hệ thống ngân hàng tại Việt Nam ra thành 4 loại từ tốt tới xấu. Họ từng loan báo số ngân hàng khoảng 10 ngân hàng thuộc loại “yếu” có thể phải bán hoặc giải thể hay sát nhập.
Trong đó 5 tới 8 ngân hàng được sát nhập năm nay nhưng có vẻ kế hoạch sẽ không chắc xảy ra, theo ý kiến của Tiến Sĩ Lê Thẩm Dương ở Ðại Học Ngân Hàng Sài Gòn.
Muốn cải tổ thật sự hệ thống ngân hàng ở Việt Nam, nhà cầm quyền cần có một số tiền rất lớn và phải nhìn nhận tầm mức lớn thật sự của các khoản nợ xấu, Tiến Sĩ Thành phân tích.
“Ðầu tiên là họ cần quyết tâm chính trị rất cao mà hiện đang thiếu,” ông nói.















































































