Trân Văn/Người Việt
Trong nghị quyết đầu tiên được thông qua hồi Tháng Mười Một, 2025 về đàn áp xuyên quốc gia (TNR), Nghị Viện Châu Âu (EP) đã liệt kê mười quốc gia mà chính phủ của họ được xác định là phải chịu trách nhiệm về 80% số vụ TNR. Việt Nam không có tên trong danh sách đó chẳng phải vì không có vi phạm nào mà dường như mức độ chưa trầm trọng bằng Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Tajikistan, Nga, Ai Cập, Campuchia, Turkmenistan, Uzbekistan, Iran, Belarus.

Giống như không hài lòng vì chưa được đưa vào… “blacklist”, hệ thống công quyền Việt Nam lập tức… bổ sung cho đủ các loại vi phạm. Nghị quyết về TNR xác định, đàn áp xuyên quốc gia là tấn công, đe dọa và gây áp lực đối với những người bất đồng chính kiến, người bảo vệ nhân quyền, nhà báo và các thành viên cộng đồng hải ngoại bên ngoài biên giới.
Chính quyền Việt Nam đã dính líu tới bắt cóc, cưỡng bức hồi hương, sử dụng hệ thống ngoại giao để vận động trục xuất, quấy rối và đe dọa qua Internet, sách nhiễu thân nhân còn ở trong nước, lạm dụng hệ thống Interpol,… sau nghị quyết đầu tiên về TNR, hệ thống công quyền Việt Nam chứng minh, họ không ngại thực hiện các vi phạm khác như: Buộc tội bịa đặt (đối với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài là “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống nhà nước,” đối với Y Quynh Bdap và Nguyễn Đình Thắng là “khủng bố”).
Không chỉ sẵn sàng mở rộng mục tiêu đến những cá nhân đã là công dân ngoại quốc (Đức, Mỹ), hệ thống công quyền Việt Nam còn tổ chức các phiên xét xử vắng mặt như một hình thức răn đe người Việt sống bên ngoài Việt Nam.
Mức độ vi phạm đa dạng và liên tục như vừa kể chính là kiểu hồ sơ mà các tổ chức bảo vệ nhân quyền cần để chứng minh Việt Nam cần được xếp vào nhóm “thủ phạm TNR với vi phạm có hệ thống” như Nga, Trung Quốc, Iran.
Đó cũng là lý do ngày 10 Tháng Sáu, 2026, Saskia Bricmont và Jonas Sjöstedt – hai nghị sĩ của EP – đã chấp nhận phối hợp với Việt Tân tổ chức một hội nghị tại Brussels (Bỉ) chỉ để thảo luận về hoạt động đàn áp xuyên quốc gia của chính quyền Việt Nam.
Các nạn nhân trực tiếp như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài,… các chuyên gia, đại diện các tổ chức quốc tế và những người vận động cho thăng tiến nhân quyền trên toàn cầu đã dùng chính những sự kiện do chính quyền Việt Nam chủ động tạo ra để thuyết phục những nhân vật hữu trách trong việc hoạch định chính sách của châu Âu rằng, Việt Nam là mối đe dọa ngày càng gia tăng đối với các quyền tự do cơ bản của con người. Cho dù chính quyền Việt Nam phản đối, xem đó là “chiến dịch vu cáo có tổ chức” nhưng họ không thể biện bạch, bác bỏ “ba vụ việc điển hình” đã thực hiện đối với các ông Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài và Y Quynh Bdap.
Cho dù “ba vụ việc điển hình” được xác định là những minh họa hoàn hảo về mặt khái niệm đối với mọi tiêu chí mà nghị quyết về TNR của EP liệt kê, song nghị quyết lần thứ hai về TNR mà EP thông qua ngày 16 Tháng Sáu, 2026, chưa đề cập đến Việt Nam.
Theo một số người am tường hoạt động nghị trường, quy trình lập pháp của EP thường có độ trễ dài, báo cáo của Ủy Ban Đối Ngoại phải được soạn thảo, đàm phán giữa các nhóm chính trị và hoàn thiện trước phiên bỏ phiếu nhiều tháng, nghĩa là nội dung chi tiết về các quốc gia cụ thể có thể đã “chốt” trước khi các diễn biến cuối tháng trước và giữa tháng này có đủ thời gian được tích hợp vào bản dự thảo cuối cùng. Mặt khác, loại nghị quyết có vai trò “khung chiến lược tổng thể” như TNR thường chỉ tập trung vào các quốc gia có quy mô và mức độ hệ thống hóa TNR lớn nhất như Nga, Trung Quốc, Iran, Belarus,… chứ hiếm khi liệt kê chi tiết.
Điều quan trọng nhất là không có tên trong nghị quyết khung không đồng nghĩa với việc các vi phạm sẽ bị bỏ qua. Những vi phạm vẫn có thể được sử dụng làm hồ sơ trong các bước tiếp theo như đề xuất trừng phạt cá nhân theo cơ chế Magnitsky, báo cáo thường niên về pháp quyền, hoặc các nghị quyết khẩn cấp riêng về Việt Nam trong tương lai, vốn là những công cụ linh hoạt hơn, phản ứng nhanh hơn so với một nghị quyết tổng thể về chiến lược cần nhiều tháng để soạn thảo.
***
Tháng Ba năm ngoái, tại phiên họp thứ 58 của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (HĐNQ LHQ), bà Lotte Knudsen – Đại sứ EU từng tố cáo Việt Nam bắt giữ những người bảo vệ môi trường, những người bảo vệ công nhân, những người ủng hộ dân chủ và cảnh báo, các vụ bắt bớ, sách nhiễu pháp lý đang thu hẹp không gian dân sự. Tháng sau, nhiều tổ chức nhân quyền và lao động đã gửi khiếu nại chính thức tới EU, khẳng định Việt Nam vi phạm các điều khoản lao động và nhân quyền của Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam (EVFTA).
Human Rights Watch đã yêu cầu EU áp đặt các biện pháp trừng phạt có mục tiêu đối với những viên chức Việt Nam tham gia thực hiện đàn áp có hệ thống, đồng thời thúc đẩy các hành động tại HĐNQ LHQ. Giờ, EP muốn vạch một lộ trình tham vọng hơn cho EU để chuyển hóa thành các bước cụ thể, ngăn chặn TNR, bảo vệ những người có thể gặp nguy, hành động chống lại những kẻ chịu trách nhiệm.
EU hiện đang duy trì “chế độ trừng phạt nhân quyền toàn cầu” (Global Human Rights Sanctions Regime) với 135 cá nhân và 37 tổ chức (đóng băng tài sản và cấm nhập cảnh EU), cơ chế này có thể mở rộng, áp dụng cho Việt Nam. Nghị quyết về TNR là nền tảng pháp lý và chính trị để gia tăng sức ép đối với Việt Nam.
Nghị quyết TNR tuy không có giá trị pháp lý bắt buộc, nhưng là tín hiệu rõ ràng về hướng đi của EU và những biện pháp trừng phạt cụ thể hoàn toàn có thể theo sau, thông qua “chế độ trừng phạt nhân quyền toàn cầu” của EU.
Tháng Giêng vừa qua, quan hệ giữa EU và Việt Nam được nâng lên mức cao nhất Đối tác Chiến lược Toàn diện (CSP). Ngay sau đó, nhiều tổ chức nhân quyền và công lý khí hậu đã gửi thư chung cho Chủ tịch Ủy ban châu Âu bày tỏ sự lo ngại sâu sắc về các cuộc đàn áp không gian dân sự ở Việt Nam và sự vắng mặt của các điều khoản nhân quyền ràng buộc hợp tác EU-Việt Nam.
Đại diện EU từng công khai chỉ trích Việt Nam lợi dụng các diễn đàn đa phương để đánh bóng hình ảnh quốc tế trong khi siết chặt kiểm soát trong nước, lúc Việt Nam vận động tái cử vào HĐNQ LHQ nhiệm kỳ 2026-2028.
Năm ngoái, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại với EU là $38.6 tỷ (thị trường thặng dư lớn thứ hai sau Mỹ – $134 tỷ). EVFTA đã tạo ra khoảng 200,000 việc làm nhưng nhân quyền là “yếu tố thiết yếu” của EVFTA. Tuy EU cần Việt Nam như một trung tâm sản xuất tăng trưởng nhanh ở Châu Á, đặc biệt trong chiến lược giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, trong bối cảnh bất ổn quan hệ xuyên Đại Tây Dương với Mỹ dưới thời Trump, EU sẽ không hành động quá mạnh và đột ngột nhưng áp lực với EU đang tăng, thái độ “nhún nhường” của EU với Việt Nam đang bị lên án và EU buộc phải suy tính về việc giữ uy tín về giá trị dân chủ. Việt Nam đang đánh đu giữa lợi kinh tế từ EU và tiêu chuẩn nhân quyền. Hành xử theo kiểu “tiếp đạn cho Việt Tân” chẳng khác gì ép EU đặt giá trị dân chủ lên trên và ở phía trước lợi ích thương mại. [kn]
(*) Xem thêm: Phần 1 và Phần 2























































































































