Ông y sĩ làm ‘bà mụ đỡ đẻ’ cho sò huyết

Vân Nguyễn

CÀ MAU, Việt Nam (NV) – Ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, nơi tận cùng của đất nước, có ông y sĩ chuyên “khám thai,” chọn giới tính và quyết định cho sinh sản mỗi năm 5 tấn sò huyết bố mẹ (loại sò đánh bắt từ tự nhiên để sinh sản sò con). Ông là một trong hai thành viên bộ phận kỹ thuật của một “tập đoàn” sản xuất sò giống duy nhất ở Việt Nam. Hai năm qua đơn vị này đã đưa ra thị trường hàn ngàn tấn sò giống. Người Việt đã và sẽ được ăn sò huyết Việt, phẩm chất Việt, không còn phải nhập con giống ngoại.

Bằng mắt thường, quan sát những con sò mẫu để đánh giá dự đoán tỉ lệ sinh của đám sò. (Hình: Vân Nguyễn)

Những năm gần đây người sành ăn hải sản thường thắc mắc, tại sao con sò huyết nhỏ hẳn đi. Giá sò cao đã đành nhưng kích thước sò huyết tự dưng nhỏ lại đó là điều khó hiểu. Đương nhiên khi kích thước con sò nhỏ lại thì lượng thịt trong con sò giảm hơn nhiều, việc chế biến cũng sẽ khó hơn, sò nhỏ dễ mất nước khi nướng, hấp làm con sò bị khô xảm, mất đi cái ngọt mềm tự nhiên.

Thiên nhiên cạn, nhân chưa tạo được

Thắc mắc của người dùng là nỗi lo của giới nuôi sò. Nguồn sò huyết tự nhiên ở Việt Nam đã cạn kiệt, từ nhiều năm qua. Những thử nghiệm nuôi đẻ nhân tạo đều không thành công, các nhà đầu tư nuôi sò phải nhập sò giống từ Đài Loan chi phí cao, giống sò Đài Loan và cả của Trung Quốc kích thước, trọng lượng đều nhỏ hơn sò Việt.

Từ các trại nuôi sò lớn đến người nuôi nhỏ lẻ đều trăn trở trước câu hỏi làm sao để nuôi, ương sò giống Việt Nam thành công để đáp ứng yêu cầu chính đáng của khách hàng, phải rẻ mà ngon không thể ăn sò nhỏ giá cao như hiện nay. Trong số những người trăn trở đó có ông Đặng Thanh Liêm là y sĩ thuộc trạm y tế xã Đất Mũi.

Sinh ra và lớn lên trên đất bãi bồi Cà Mau, hưởng gien di truyền của bà mẹ rất tinh tế, sáng tạo, yêu thích việc nuôi các loài nhuyễn thể, ông tìm cách thử nghiệm theo tấm gương người mẹ.

Nguyên trước đây, các xí nghiệp thủy sản Cà Mau chỉ chế biến bong bóng và thịt cá đường, phần trứng cá rất béo bị xem là phế phẩm, “bán quạ, bán diều” (phương ngữ của người miền Tây, nghĩa đen là bán những con quạ, diều là vật hoang dã bay trên trời; nghĩa bóng là làm chuyện cầu may được chăng hay chớ) cho người dân. Người có tiền cũng không thiết tha với trứng cá đường vì vị quá béo, khó chế biến món ăn.

Ông Đặng Thanh Liêm ngày đêm rong ruổi khắp nơi. (Hình: Vân Nguyễn)

Mẹ ông Liêm đã suy nghĩ và có ý tưởng làm sao giảm bớt chất béo trong trứng cá đường và sau đó ướp ủ làm thành mắm. Bà lần lượt thử nghiệm và cuối cùng đã thành công. Rất đơn giản, bà dùng cái rổ sạch chứa trứng rồi gác lên một cái chậy để vài ngày, nước béo trong trứng rỏ xuống chỉ còn phần xác trứng. Theo công thức ủ mắm thông thường là chượp muối, trộn thính, gài nén… cuối cùng bà đã làm thành công món trứng cá đường ngon trứ danh. Lúc đầu bà chỉ tặng bà con, sau đó tiếng lành đồn xa, năm 2008, báo Sài Gòn Tiếp Thị đăng bài giới thiệu nên nhiều người đặt mua.

Sò đẻ ra nghêu?

Theo gương bà mẹ, ông Đặng Thanh Liêm vừa đọc sách báo, tài liệu về đặc điểm sinh học, nguyên lý sinh sản của loài sò huyết và các loài nhuyễn thể hai mảnh như các loại sò, nghêu, hào… một mặt ông tự thử nghiệm.

Sau nhiều thất bại, cuối cùng ông Liêm cũng rút ra phương pháp cho sò huyết đẻ nhân tạo rất đơn giản. Chọn ra các con sò đã có trứng lớn, phơi trong nắng hoặc dưới ánh sáng đèn điện một thời gian để cho sò bị khô khát nước. Sau đó bỏ sò vào hồ ương, cho nước biển vào. Sò gặp nước hả miệng uống theo bản năng, ngay chính lúc ấy trứng sò sẽ được phóng thích, trứng sò chảy ra thành một vệt trắng đục mà mắt thường có thể nhìn thấy được.

Khai thác sò bố mẹ trong đêm. (Hình: Vân Nguyễn)

Nhưng ngay trong thành công lại gặp phải thất bại hết sức oái oăm. Rõ ràng ông đã làm vệ sinh hồ ương rất tốt, đáy khô sạch nhưng khi cho sò đẻ thì lại lẫn lộn nhiều loài nhuyễn thể khác như nghêu, hào, sò điệp. Nếu không khắc phục được tình trạng này thì ông Liêm không thể sản xuất được.

Vấn đề là tại sao sò đẻ ra nghêu? Không lẽ có sự giao phối tự nhiên giữa hai giống này. Ông trời vốn lắt léo đã phú cho sò huyết đặc tính lưỡng thê, khi là giống đực, khi là giống cái. Có những lô sò khi thử nghiệm lần đầu, lượng cái rất thấp nhưng một thời gian sau, tỉ lệ sò cái lại tăng gấp đôi gấp ba. Chuyện sò huyết giao phối với các loài khác chưa thấy sách vở nào nói đến, có thể loại trừ. Cuối cùng, ông Liêm đã tìm ra nguyên nhân là ở vỏ con sò. Trứng của các loài ngoại lai bám vào vỏ sò, nên gặp môi trường thích hợp nó cùng nở với sò con. Từ bài học này, nguồn sò bố mẹ trước khi đưa vào sinh sản phải làm vỏ sạch, trắng như bông.

Giải được bài toán cho sò huyết đẻ, thuần chủng nhưng bài toán về phương pháp ương để tỉ lệ sò con thương phẩm (sò con đươc cho đẻ và ương nuôi nhân tạo để bán ra thị trường ăn thịt) sống được cao, đạt hiệu quả kinh tế thì lại hoàn toàn bế tắc. Một con sò đẻ được 6 triệu trứng nhưng sau một tháng, trứng thành sò con đáp xuống đáy hồ thì chỉ vài ba chục con. Ông Liêm không thua cuộc mà vừa thuê đất ở Đất Mũi, Cà Mau, vừa thuê đất ở Gành Hào, Bạc Liêu, để thử nghiệm cho sò huyết đẻ trứng trong những điều kiện khác nhau nhưng kết quả vẫn như vậy.

Không chỉ xem sò, phải xem xét cả đất và nước. (Hình: Vân Nguyễn)

Đầu tư 6 tỷ học nghề

Bế tắc này không riêng của ông Liêm mà ngay các chủ trại nuôi sò lớn ở Vũng Tàu cũng thất bại như vậy. Cuối cùng, mọi người đã hùn vốn nhau đầu tư hơn 6 tỷ đồng (khoảng $258,000) để mua công nghệ ương trứng sò của Đài Loan. Quả nhiên, theo công nghệ này, tỉ lệ hao hụt sò con rất thấp, ngược lại người làm giống hoàn toàn có thể chủ động cho sò đẻ theo tỉ lệ nào trong lượng 6 triệu trứng của mỗi con sò. Thông thường, để bảo đảm sức khỏe cho đàn sò giống, người ta chỉ lấy từ 20 đến 30%.

Thành công về quy trình, công nghệ là như vậy nhưng một vấn nạn khác là môi trường. Cà Mau là môi trường tốt nhất cho sò huyết phát triển. Không riêng ông Liêm mà các chủ trại nuôi sò cũng muốn đặt trại ương tại Cà Mau nhưng đều thất bại. Khi trứng sò tương đối lớn, đến giai đoạn bơm nước sống (nước biển tự nhiên) vào hồ ương, sò chết rất nhiều. Thử nghiệm ở nhiều địa phương khác Trà Vinh, Bến Tre, Cần Giờ (Sài Gòn) cho thấy tỉ lệ chết khác nhau, trong đó Vũng Tàu đạt tỉ lệ sống tối ưu.

Ông Liêm lý giải rằng nước biển ở Cà Mau có quá nhiều phù sa, dưỡng chất nên khi thay đổi môi trường đột ngột từ nguồn nước ương nhân tạo các chỉ số về độ mặn và chất rắn hòa tan được khống chế theo công nghệ nuôi sang nước sống, sò non bị ngộp.

Hơn thế nữa, nước Vũng Tàu có độ mặn cao và ổn định quanh năm nên có thể ương liên tục. Trong khi đó nước ở Bến Tre, Cần Giờ, Trà Vinh chỉ đủ độ mặn để ương từ khi có gió chướng đến khoảng Tháng Hai, Tháng Ba. Các tháng còn lại nước không đủ độ mặn cho hoạt động ương nuôi.

Sau những thử nghiệm “máu lửa” này, các chủ trại đã kết hợp nhau thành “tập đoàn” ương sò, cơ sở chính đặt tại Vũng Tàu gồm năm trại nuôi ương. Bộ phận kỹ thuật của “tập đoàn,” nơi nắm bí quyết công nghệ và điều hành quy trình sản xuất, gồm hai người, được hưởng 30% lợi nhuận. Một người tổ chức điều hành ương nuôi tại Vũng Tàu, còn ông Liêm “đóng đô” tại Cà Mau, trực tiếp chọn mua và tổ chức vận chuyển sò giống bố mẹ về “bản doanh.”

Cây bút đo mặn, phương tiện kỹ thuật duy nhất của ông Đặng Thanh Liêm. (Hình: Vân Nguyễn)

Sò huyết Cà Mau sẽ lại “lên hương”

Từ năm 2017 đến nay, “tập đoàn” là đơn vị duy nhất của Việt Nam sản xuất được sò giống thương phẩm Việt Nam và cung cấp cho các trại nuôi cả nước. Việc nhập sò giống, thuê chuyên gia Đài Loan cũng đã chấm dứt. Theo thời gian tăng trưởng của sò huyết từ khi đẻ trứng đến khi khai thác thịt là hai năm thì bắt đầu từ năm 2020, con sò thịt của “ông mụ” Liêm sẽ được đưa ra thị trường. Thực khách sẽ gặp lại những con sò Việt to mập không còn phải phiền lòng với những con “sò se sẻ.”

Hỏi vì sao được các chủ trại nuôi sò chọn giao công việc quan trọng chỉ hai người được hưởng đến 30% lợi nhuận? Ông Liêm cười hiền lành giải thích: “Cái đó là từ thực tiễn. Hiện nay cung không đủ cầu, ương ra bao nhiêu cũng không đủ. Chúng tôi là nguồn cung cấp con giống duy nhất nên không có cạnh tranh. Vấn đề là phải có giống tốt, để ương đạt công suất, đạt tỉ lệ cao nhất. Mấy ổng tin tôi có lẽ là từ thực tế của tôi, những kinh nghiệm, thành công và thất bại của tôi.”

Công việc của ông không chỉ đơn giản là mua sò như lái sò bình thường mà phải đánh giá, lựa chọn chính xác nhất đàn sò bố mẹ về tỉ lệ lên giống. Đây không phải là “đếm cua trong giỏ” mà phải tính toán được số cua sẽ đẻ cho từng lô hàng. Phải ghi nhận chính xác điều kiện môi trường, độ mặn, hàm lượng phù sa của vùng nước mỗi đàn sò….

Tất cả những công việc ấy phải làm bằng tim óc, sự nhạy cảm, kinh nghiệm của mình mà hầu như không có phương tiện hỗ trợ nào. Phương tiện duy nhất mà ông đang sử dụng là bút đo độ mặn.

Sò tự nhiên mới được khai thác có đẻ được hay không tùy theo “ông mụ.” (Hình: Vân Nguyễn)

Về thực lực “tập đoàn” của ông hiện nay có năm trại nuôi ở Vũng Tàu, hai trại ở Bến Tre, ba trại ở Cần Giờ. Bình quân mỗi năm ông phải tuyển chọn và cung ứng cho “tập đoàn” 5 tấn sò bố mẹ. Đó là khối lượng và tính chất công việc hoàn toàn không đơn giản. Ngôi nhà sàn ven sông của ông luôn trống toác không cần cửa nẻo, còn bản thân ông thì rong ruổi trên xe, vỏ lãi (loại xuồng phổ biến ở miền Tây, thân dài, thon nhọn, rẽ sóng tốt, tốc độ di chuyển nhanh) đi khắp cùng đồng đất, bãi bồi để tìm các “bà sò” đang bụng mang dạ chửa.

Đánh giá về công việc, ông Liêm cho rằng niềm vui, đam mê là chính. Đối diện với mỗi đám sò là một ván bài, phải giải được bài toán tương lai nó sẽ đẻ bao nhiêu phần trăm. Số lượng sò bố mẹ từ tự nhiên hiện nay không nhiều, không được bỏ phí, nên phải tính thật sát chứ không vì lợi nhuận của mình mà o ép người bán. Nếu ham lời, tỉ lệ đẻ trứng của lô sò là 80% ông nói 60% để ép giá người dân thì khó ai cãi được, nhưng mần ăn kiểu đó thì không bền không tình nghĩa.

Hỏi về hiệu quả của người nuôi sò thương phẩm (mua sò con về nuôi lớn bán ra thị trường ăn thịt), ông Liêm chân thành nói: “Cũng vô chừng lắm, chuyện chim trời cá nước đâu có gì chắc chắn. Nhưng có thể đưa ra bài toán bình quân để dễ hình dung. Với một ao, hồ nuôi diện tích 150 mét vuông, thả 1 kg sò giống. Sau hai năm nếu đạt tỉ lệ sống bình quân và trọng lượng 50 con trên kg với thời giá hiện nay là 200,000 đồng/kg thì có thể thu nhập được khoảng 120 triệu đồng (khoảng $5,100). Đó là khoản thu nhập cao nhất mà ở nông thôn từ nghề lúa, muối, chăn nuôi gia súc, không có cái nào đạt cao như vậy. Chỉ sợ ông Trời, chứ sò huyết chỉ lên giá chứ chưa bao giờ sụt. Nghĩ tới chuyện bà con khá lên, bụng mình cũng vui.” (Vân Nguyễn) [qd]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT