Nguyễn Ngọc Bích
Tôi hình như có duyên với đất Song Thành bởi xem như không có năm nào mà tôi lại không có cớ đến hai thành phố miền Bắc dễ thương này của Minnesota, nhất là St. Paul.
Thì năm nay cũng vậy, tôi mới có cuốn sách mới thì anh Huỳnh Sĩ Nghị lại gọi mời tôi lên nói chuyện với lớp báo chí cho người thiểu số sắp ra trường vào ngày 31 tháng 3, 2012.
Thế là tôi khăn gói quả mướp lặn lội ra phi trường Reagan National ở DC từ 5 giờ sáng ngày Thứ Tư, 28 tháng 3, bởi chuyến máy bay của tôi đi Minnesota cất cánh vào lúc 6g38. Tuy ra sớm thế mà tôi vẫn sém hụt chuyến bay vì tôi chỉ kịp chạy vào trong tàu bay lúc 6g36 phút. Thật hú vía! Vì sao? Vì mấy hàng rồng rắn đi qua Security (An ninh phi trường) ở Reagan di chuyển quá lề mề, tới phiên mình thì đã cả giờ trôi qua rồi.
Nhưng tới St. Paul thì anh Huỳnh Sĩ Nghị đã có mặt sẵn ở phi trường với nhà thơ Cung Trầm Tưởng, 80 hơn, tóc trắng như cước, để đón tôi và đưa ngay đến hội trường, nơi tôi sẽ nói chuyện về “Lưu Hương Ký.”
“Lưu Hương Ký” được giới thiệu với hơn 100 vị cao niên
Thì ra hội trường là một tiệm ăn, nơi hội họp hàng tuần của các cụ do Trung Tâm Dịch Vụ VN ở Minnesota (Vietnamese Social Services of Minnesota) cung ứng. VSSM là một trung tâm đã có mặt từ lâu ở trong vùng, do ông Phạm Văn Yến, một cựu sĩ quan Không Quân VNCH điều hành. Mỗi Thứ Tư, hội mời các cụ lại dự một sinh hoạt văn nghệ hay văn hóa rồi ở lại dùng cơm. Hôm nay đông hơn bình thường vì có tin sẽ có diễn giả đến nói chuyện về một tập thơ của Hồ Xuân Hương có từ năm 1814 song chỉ mới được giới thiệu trong vòng vài chục năm qua.
Theo diễn giả là tôi thì tập thơ này, mang tên “Lưu Hương Ký,” đã được tìm ra từ năm 1956-57 trong một rương sách cũ ở nhà cụ cử Nguyễn Văn Tú ở làng Hành thiện, Nam định, rồi được đưa về Hà Nội tặng cho Viện Văn Học. Nhưng mãi tới năm 1963 64, nhà nghiên cứu văn học Trần Thanh Mại mới đem giới thiệu được một phần rồi ông mất. Hai mươi năm sau, đến năm 1983, cụ Hoàng Xuân Hãn ở Pháp mới tiếp nối công việc khai thác cuốn sách để vẽ nên một lịch sử các người tình của Hồ Xuân Hương, trong đó có cả nhà đại thi hào của chúng ta, Nguyễn Du (1765 1820). Cuốn sách sau đó cũng được người khác tiếp tục nghiên cứu, trong đó có ông Ðào Thái Tôn, người giấu biến cuốn sách làm của riêng trong gần 40 năm, và Tiến Sĩ Hoàng Bích Ngọc, tác giả một cuốn sách đồ sộ viết về Hồ Xuân Hương, Con người Tư tưởng Tác phẩm (748 trang) ra năm 2003. Tiếc thay, mặc dầu vậy, tập Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương cho đến gần đây mới được phiên âm và phiên dịch sang chữ Quốc ngữ khoảng 3/4 và phải tới hôm nay, với quyển “Lưu Hương Ký” phiên âm, phiên dịch đầy đủ của tôi, lần đầu tiên ta mới được thấy bộ mặt chính xác của cuốn sách và tài làm thơ chữ Hán xuất chúng của “Bà chúa thơ Nôm.”
Sau khi tôi trình bày lai lịch của câu chuyện, cử tọa đã đặt cho tôi nhiều câu hỏi. Có vị lên bắt tôi phải giải nghĩa đích xác cả hai nghĩa của bài thơ “Bánh trôi nước.” Tôi đã phải dùng mỹ thuật để mô tả những vòng cong trong bài thơ của họ Hồ: “Thân em vừa trắng lại vừa tròn / Bảy nổi ba chìm với nước non…” Có cụ lại hỏi tôi về ý nghĩa của ba chữ “Lưu Hương Ký” trong đó có kiểu chơi chữ rất đặc sắc của Hồ Xuân Hương. Rồi chính ông Phạm Văn Yến, giám đốc VSSM, lên đọc bài thơ “Chơi cờ người” được các cụ xem ra hưởng ứng lắm: “Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc…”
Trong không khí hứng khởi của buổi nói chuyện, bà con đã ào ra mua sách làm chỗ sách mang lên hết liền ngay tại chỗ. Nhưng vui nhất có lẽ phải nói là mỗi lần tôi lên Song Thành là một lần tôi được gặp lại những bạn cố tri như ông anh Phạm Văn Vy, năm nay gần 90 rồi nhưng vẫn còn tráng kiện, ông bà GS Stephen Young và Hòa (đã cho tôi tá túc trong thời gian ở đây), ông bà nhạc sĩ Cung Tiến và Josée mà tôi quen biết từ những ngày còn ở trong nước, ông Phan Thanh Tâm, cộng sự viên của tôi ở Việt Tấn Xã từ trước 75, ông Phan Công Tâm lái hơn 5 tiếng đồng hồ từ Wisconsin qua, không kể bao nhiêu bạn khác mà tôi đã quen ở đất Vạn Hồ từ ngày sang Mỹ năm 75 đến giờ.

















































































