Ðà Lạt 45 năm trở lại

 


TẢN MẠN THƠ VĂN


 


1966 – 2011


 


Ðầu năm 2011 vợ chồng tôi về thăm lại Việt Nam, lần này chúng tôi quyết định thăm nom kỹ lại thành phố Ðà Lạt, là nơi vợ chồng tôi đã sống qua 2 năm (1964-1966) trong thời gian tôi làm công chức nên có nhiều kỷ niệm!


 Thật tình mà nói trước đây khi về VN vợ chồng tôi cũng đã 2 lần viếng thăm Ðà Lạt, nhưng đó chỉ là viếng thăm qua loa ngắn ngày, không khác nào như cưỡi ngựa xem hoa vậy đó! Chúng tôi đi theo tour Văn Hóa Việt, bao trọn gói 4 ngày 3 đêm (từ 8/3 đến 11/3/11), bằng xe bus loại trung, tour này có chừng 25 du khách trong đó 1/4 là Việt kiều, khởi hành từ Saigon đi Quốc lộ số 1, tới ngã ba Dầu Giây, rẽ trái theo Quốc Lộ 20 đi thẳng lên Ðà Lạt. Ðiểm tham quan đầu tiên là Thác DamB’ri ở Bảo Lộc và buôn làng của dân tộc Châu Mạ theo chế độ Mẫu hệ (từ QL 20 rẽ trái chừng 18 km là tới điểm tham quan). Dân tộc Châu Mạ trình diễn cồng chiêng, ngựa phi, voi đá banh, khỉ làm trò,… rồi viếng thăm nhà sàn và nhà lưu niệm của đồng bào thiểu số. Vừa ra khỏi vị trí tham quan chừng 500-700 mét, ngay bên tay mặt là vùng đất của Tu Viện Bát Nhã, mà khoảng 2 năm trước Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã đưa chừng hơn 500 đệ tử nhóm Tăng đoàn Làng Mai (đa phần người Việt ở Pháp & Châu Âu) về tu học đạo ở đây, họ đã bỏ biết bao nhiêu là tiền bạc cũng như công sức vào việc trùng tu tu viện Bát Nhã này! Thế nhưng sau đó chỉ một thời gian ngắn, không biết vì lý do gì nhóm tu đạo này đã không được cho cư trú ở đây nữa!


Nên biết trước 1975 Thiền Sư Thích Nhất Hạnh là một nhà sư phản chiến, chống chiến tranh VN, đồng thời trước Quốc Hội Mỹ nhà sư đã yêu cầu Mỹ rút quân về nước, để VN có hòa bình! Mới đây năm 2007, Thiền Sư Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai đã có 3 tháng về Việt Nam lập trai đàn cầu siêu giải thoát cho mọi người đã bị chết trong chiến trận Việt Nam từ Bắc vào Nam (nhưng hình như việc lập trai đàn cầu siêu, giải oan này đã không được các chùa chiềng thuộc khối Phật Giáo Ấn Quang hưởng ứng!)


Sau khi tham quan xong, xe ra lại QL 20 đi qua Bảo Lộc, Tùng Nghĩa, phi trường Liên Khương, Finom, xe vừa qua đèo Prenn, ta đã cảm nhận được không khí mát lạnh của vùng đất cao nguyên Lang Biang, thành phố Ðà Lạt, có độ cao trung bình 1.500 mét so với mặt biển, thành phố Ðà Lạt có nhiều tên gọi khác nhau như: thành phố ngàn hoa, thành phố sương mù, thành phố Mùa Xuân, thành phố Hoa Ðào. Ðất vùng cao nguyên này, trong thời kỳ vị vua cuối cùng của Triều Nguyễn, tức Hoàng đế Bảo Ðại trước đây được gọi là vùng đất thuộc Hoàng Triều cương thổ. Sau này thành phố Ðàlạt thuộc tỉnh Lâm Ðồng, có diện tích chừng 10,000 km2, với dân số 1 triệu 200 ngàn người (số liệu năm 2006). Ðoàn du lịch tuy chỉ 25 người, nhưng chia ra làm 3 nhóm ở 3 khách sạn khác nhau loại 2, 3 và 4 sao, nhóm tôi ở khách sạn 3 sao, khách sạn Ðà Lạt Plaza (Best Western) số 09 Lê Ðại Hành Ðà Lạt, đối diện chợ Ðà Lạt, khách sạn vừa mới khánh thành vài tháng trước đây, nên trông rất ngăn nắp, sạch sẽ tốt đẹp, kể cả mỗi phòng đều có tủ két sắt riêng để quý khách cất giữ đồ quý giá. Saigon – Ðà Lạt dài đúng 300 Km, không kể đoạn 18 km vào thác Damb’ri vậy là hơn 300 km, hơn 8 tiếng đồng hồ ngồi xe, người thấy cũng rêm mình, (vừa đúng tuổi thất thập rồi còn gì), nên muốn được nghỉ ngơi đi ngủ sớm, để ngày mai đủ sức tiếp tục cuộc du ngoạn! Ðâu đây văng vẳng bài ca của Nhạc Sĩ Hoàng Nguyên: “Ai lên xứ Hoa Ðào, dừng chân bên hồ, nghe chiều rơi…” như ru mình vào giấc ngủ nhanh hơn!


Ở trên tôi đã nói có trở lại Ðà Lạt 2 lần trước đây, nhưng chỉ thưởng lãm thành phố như người cỡi ngựa xem hoa, lần cách đây đâu 5 năm trước thác Cam Ly gần thành phố vẫn còn là một thắng cảnh du lịch đẹp như những năm nào! Còn lần cách đây khoản 3 năm thì Ðà Lạt không còn là Ðà Lạt nữa, sở dĩ tôi dám mạnh mẽ nói như thế, là vì lần thăm này hồ Xuân Hương cạn trơ đáy, (hồ rất cạn chỗ sâu nhất cũng chỉ chừng 3 thước) không đẹp mắt một tí nào cả! Có lẽ chính quyền khi đó cho xả nước hồ là để nạo vét hồ hay xây bờ kè chăng? Tôi vẫn có cảm nghĩ Ðà Lạt mà không có cảnh đẹp của hồ Xuân Hương thì không khác nào thành phố Hà Nội mà không có hồ Hoàn Kiếm, hay thành phố Huế không có dòng Hương Giang thơ mộng chảy qua thành phố Huế vậy đó! Hồi năm 1953, chủ tịch Hội Ðồng Thành Phố Ðà Lạt, ông Nguyễn Vỹ đã đặt tên hồ lớn là Hồ Xuân Hương.


Sáng ngày 9 tháng 3 chúng tôi viếng thăm thung lũng Vàng, Hồ Dankia, xong chúng tôi đi lên Ðỉnh Lang Biang, đỉnh này cao gần 2,000 mét, có xe Jeep đưa du khách lên đỉnh núi, mỗi xe Jeep chở chừng 7 8 người, lệ phí mỗi người 55 ngàn đồng VN (chỉ gần $3 USD), có chừng hơn 30 xe phục vụ du khách, đường lên núi quanh co, còn khó hơn đi đường đèo Hải Vân (Quảng Nam Thừa Thiên), mỗi tài xế lái xe hưởng lương chừng hơn 3 triệu đồng VN/tháng (chừng $150 USD/tháng). Lên đến đỉnh đồi có một khu đất bằng phẳng rộng chừng vài ba mẫu, một phần dùng làm parking đậu xe Jeep, một phần khác khai thác nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống, trên này còn có cho thuê ống kính viễn vọng để xem toàn cảnh thành phố từ xa. Buổi chiều chúng tôi viếng thăm nhà thờ Domain de Marie, tham quan Biệt Ðiện Bảo Ðại. Vườn hoa Bích Câu (Flower Park) rất nhiều loại hoa đẹp, thật xứng đáng là xứ ngàn hoa! Thành phố Ðà Lạt hàng năm vẫn có tổ chức Hội Hoa Ðà Lạt (gọi là Festival Hoa Ðà Lạt.) Tối chúng tôi đến Xã Lát tham dự giao lưu văn hóa văn nghệ với người dân tộc Lộc Lạt. Du khách muốn tham dự phải phải đóng 150 ngàn đồng VN, gần 20 người trong đoàn ghi tên đóng tiền tham dự. Buổi tối vào lúc 7 giờ chúng tôi đã có mặt, nhưng phải chờ rất lâu tới cả 1 giờ để 2 phái đoàn du lịch khác cũng tới giao lưu, thế là tổng cọng đoàn mình và 2 đoàn bạn khác chừng 40 người tham dự đêm lửa trại tại nhà rông buôn làng, buổi giao lưu văn nghệ và lửa trại diễn ra rất vui vẻ và tốt đẹp, các cô nàng dân tộc thiểu số ở đây trông rất xinh xắn, tựa như các cô người mẫu vậy đó! Nói giao lưu văn nghệ cũng đúng thôi, vì du khách được mời nhảy lửa trại, uống rượu cần chung với nam nữ người sắc tộc! Ta thấy với 40 du khách, mỗi người đóng 150 ngàn, thì số tiền cũng được 6 triệu đồng VN, (tuy số tiền này chỉ tương đương $300 USD), không biết buôn làng đây tổ chức giao lưu mỗi tối một, hay 2 đêm mới có một đêm văn nghệ giao lưu như thế này! Khi ra về hình ảnh các cô nàng sắc tộc như còn ám ảnh các chàng thanh niên trong giấc ngủ! Trong khi đó cá nhân tôi lại nhớ về những ngày xa xưa ở Ðà Lạt này. Sau khi tốt nghiệp trường Công Chánh Phú Thọ Saigon (1961 1964), tôi được đưa lên làm việc ở Ðà Lạt vào tháng 6, 1964, với cương vị trưởng đoàn đo đạc trực thuộc ty điền địa Ðà Lạt về mặt hành chánh.Vừa tốt nghiệp ra trường, tôi được ông bác nhượng lại cho tôi chiếc xe Lambretta đời EA 84… giá 22 ngàn, (tôi đưa trước 10 ngàn, còn nợ 12 ngàn trả dần trong 6 tháng, mỗi tháng 2 ngàn đồng, giá 22 ngàn lúc đó tương đương hơn 4 lượng vàng), xe còn rất tốt, lý do nhường lại do con trai ông bác được đi du học ở Pháp! Mới ra trường lại có xe tốt đi làm việc ở Ðà Lạt thành phố mát mẻ và thanh bình thì còn gì sung sướng bằng! Ty điền địa Ðà Lạt là một villa lầu bằng gỗ ở đường Nguyễn Du gần với Ty Công Chánh và ty Kiến Thiết, cũng gần tiểu khu Ðà Lạt Tuyên Ðức. Trưởng ty là Kỹ Sư Nguyễn Hữu Nghi người Bắc, tánh tình dễ chịu, về sau đổi về trung ương Saigon, nhà anh ở gần chợ Thị Nghè, sau 1975 đi cải tạo về, anh được ra đi trong diện HO hiện gia đình ở California, phó ty là anh Bùi Quang Minh, về sau anh đổi về làm trưởng ty điền địa Phan Thiết, sau 1975 đi tù cải tạo về, anh đâu anh vượt biên nhưng đã không được may mắn! Nhân viên trong ty có ông Trương Tôn lớn tuổi nhỏ con, thư ký hành chánh, lúc nào cũng complet veston đàng hoàng người gốc Quảng Nam, có 2 cô thư ký đó là cô Lực và chị Ngàn, 2 anh trắc lượng viện chính, anh Nghĩa anh ruột cô Lực và anh Ðài, họa viên giỏi thì có 2 anh Duy và Khanh, thư ký điền thổ thì có ông Tôn Thất Kỳ lớn tuổi và anh Thịnh người mập mạp, còn nhân viên phụ giúp đo đạc cả 15-20 người như anh Hồ Khiên người Huế, ông già Khắc, ông Bối, ông Bồi cả 3 là người Bắc di cư, ở dưới tầng trệt. Lúc đầu tôi ở chung nhà với anh phó ty Minh và 3 anh bạn Lê Văn Thiệt, Nguyễn Phú Thạnh và KS Ðỗ Hữu Minh Châu một căn nhà lầu khang trang trên đồi Pic Roben, vài tháng sau có vợ tôi thuê phòng ở riêng trên đường Võ Tánh, gần Linh Sơn tự và cũng gần đồi có Lữ quán Thanh Niên. Có thể nói khí hậu vùng cao nguyên rất tốt đẹp, luôn luôn trong lành và mát mẻ, buổi sáng bình minh, hay hoàng hôn, thường có sương mù mờ ảo, trông thật đẹp mắt!


Phương tiện đi lại ngày trước thường là xe lambretta 3 bánh, hay xe ngựa chở khách, là xứ lạnh nên nhu cầu tắm nước nóng ở các nhà tắm (đường Phan Ðình Phùng) là một nhu cầu cần thiết vào thời đó! (Tôi còn nhớ mỗi lần tắm là 10 đồng, nhưng nếu mua phiếu trước cho cả 10 lần tắm thì chỉ phải trả 80 đồng mà thôi). Trong thời gian làm trưởng đoàn đo đạc ở xã Liên Hiệp huyện Ðức Trọng, cách ngã ba phi trường Liên Khương/Quốc Lộ 20 chừng vài ba cây số, công tác chủ yếu của đoàn đo đạc là lập bản đồ để cấp bằng khoáng đất đai (hữu sản hóa) cho những người dân chiếm canh, chiếm cư bất hợp pháp (nói nôm na là chính quyền hợp pháp hóa quyền sở hữu cho người dân, cũng như ngày nay CHXHCNVN làm sổ đỏ cho người dân có đất đai nhà cửa vậy.), trong thời gian này đoàn đo đạc ở Tùng Nghĩa, gần chợ rất thuận tiện trong việc ăn uống hay chợ búa, đoàn được Tổng Nha Ðiền địa tăng phái cho đoàn 1 chiếc xe Land Rover, rất thuận tiện đưa đón đoàn làm công tác. Do tương đối rảnh rỗi tôi thường gặp linh mục Bửu Dưỡng, Ngài là cha xứ của cư xá Bảo An, ngài dạy tại Viện đại học Ðà Lạt và ngài thường lái chiếc xe nhỏ Volkswagen con cóc màu vàng, về sau ngài về Saigon lập trường Ðại Học Y khoa Minh Ðức ở đường Trần Quốc Toản (cũng như trường đại học Vạn Hạnh của bên Phật giáo vậy).


Trong thời gian công tác ở Ðà Lạt, thấy trên đại lộ Hùng Vương (góc Hùng Vương và dốc đi lên khu Du Sinh, gần hàng rào trường nữ Couvent des oiseaux, cách thác Cam Ly chừng 300 mét), một thửa đất đẹp diện tích chừng 1,000 m2, đây là đất của thành phố, nên tôi lập thủ tục xin thuê để cất nhà trong tương lai! Mọi việc đều được thuận lợi như ý muốn! Kể cả bỏ hơn 1 tháng lương thuê ông chủ xe ủi đất (người Pháp) ủi bằng phẳng lô đất trông đẹp mắt vô cùng, lô đất này sau khi ủi xong cao hơn mặt đường nhựa Hùng Vương chừng 3-4 tấc (30-40 cm). Tuy đã làm hồ sơ xây cất và đã có giấy phép, nhưng chưa kịp xây cất thì tháng 6, 1966 tôi lại được trung ương cử ra làm trưởng ty điền địa Tỉnh Quảng Nam. Do vậy tôi phải xin phép sang nhượng lại lô đất thuê này cho người khác, được giá 130 ngàn, (bằng chừng 20 tháng lương của tôi, hay mua được hơn 20 lượng vàng hồi đó). Lô đất này ngày nay (2011) nếu tính 1 m2 giá chừng 6 chỉ vàng hay $22 triệu/m2, thì thời giá cũng trên dưới 1 triệu USD. Ngoài ra trước khi về Saigon để ra Quảng Nam nhận nhiệm vụ mới, tôi cũng bán luôn chiếc xe Lambretta EA được 55 ngàn đồng. Như vậy phải nói 2 năm làm việc ở Ðà Lạt, với vợ chồng tôi mọi việc đều được thuận lợi.


Theo chương trình sáng ngày 10 tháng 3 chúng tôi viếng thăm Thiền Viện Trúc Lâm, đây là một ngôi chùa đẹp sạch sẽ rộng rãi, cây cối trồng như tre trúc rất hài hòa, trước chùa ở 2 bên tả hữu có 2 nhà trống chuông riêng biệt trước chùa. Rời thiền viện đoàn đến tham quan hồ Tuyền Lâm cạnh đó, (hồ ngay trước khuông viên thiền viện, chúng tôi được phân phối đi trên 2 ghe máy (có choàng áo phao bảo hộ) chạy trên hồ Tuyền Lâm chừng khoảng 45 phút, từ đầu hồ tới cuối hồ, hồ này rộng chừng 300 ha (mẫu tây), nghe nói độ sâu trung bình chừng hơn 30 mét, hồ nước ở độ cao hơn 1.000 mét so với mặt nước biển, chu vi hồ được bao bọc bởi những đồi núi thoi thỏi, không cao, đây là một hồ nước ngọt thiên nhiên có từ cả ngàn năm trước! Như vậy tổng khối lượng nước ngọt chứa trong hồ Tuyền Lâm này ước chừng gần 100 triệu m3 nước. So với hồ Xuân Hương chu vi chỉ chừng 5 Km, và tiếp giáp với các đường Nguyễn Thái Học, Trần Quốc Toản, Bác Sĩ Yersin, và Bà Huyện Thanh Quan (là đường vòng quanh hồ dài nhất bằng 2 lần của 3 đường kia cọng lại), hồ Xuân Hương có hình dạng như củ khoai lang, chiều dài hồ hơn gấp 6 lần bề rộng trung bình, (bề rộng hồ trung bình hơn 250 mét), còn chỗ rộng nhất ước được 350 mét, (đó là đoạn cong của đường Yersin & đường Bà Huyện Thanh Quan trông qua bên kia hồ). Hồ Xuân Hương có diện tích mặt nước chừng 60 70 mẫu, sâu trung bình chỉ hơn 2.50 mét, tổng lượng nước trong hồ gần 2 triệu thước khối nước (2 triệu m3 nước), cạnh hồ có 2 nhà hàng dôi ra khỏi bờ hồ (như kiểu nhà thủy tạ) đó là nhà hàng Thủy Tạ và nhà hàng Thanh Thủy, đoạn cuối của hồ trên là cầu Ông Ðạo dài chừng 50 mét, dưới là đập tràn di động (có thể nâng cao hay hạ thấp để điều tiết mực nước hồ Xuân Hương), nước của hồ khi đầy sẽ tràn qua đập này chảy trên một con suối dài chừng gần 2 Km lên tới tận thác Cam Ly. Nói chung hồ Tuyền Lâm rộng gần gấp 5 lần hồ Xuân Hương và sâu cũng gấp 10 lần, do vậy tổng lượng nước của hồ Tuyền Lâm cũng vào khoảng 100 triệu thước khối (100 triệu m3). Không biết cơ quan cấp nước (nhà máy nước) Thành phố Ðà Lạt có phải dùng nước từ hồ Tuyền Lâm không? Trên hồ Tuyềm Lâm có cho thuê chừng 15-20 chiếc xe đạp nước (pédal’eau) để du khách thuê sử dụng.


Buổi chiều ngày 10 tháng 3, chúng tôi tham quan nhà thờ Domaine de Marie, sau đó đoàn về viếng chợ Ðà Lạt. Các người vào thăm chợ cũng như mua sắm, còn riêng cá nhân tôi dùng thời gian rảnh rỗi này thuê một chiếc xe ôm chở đi thăm lại những nơi mà hơn 45 năm qua tôi đã được biết đến! Nhận xét đầu tiên là thành phố đẹp đẽ sang trọng, to lớn hơn hẳn ra, nhiều khách sạn lầu cao nhiều tầng sang trọng 3-4 sao có ở mọi đường phố chính, có nhiều đường hầu như kinh doanh toàn là khách sạn, nhà trọ, nhà hàng, café hay karaoke, đường sá rộng rãi hơn trước kia rất nhiều! Ðầu tiên chúng tôi đi qua cầu Ông Ðạo (cầu trước mặt chợ Ðàlạt). dọc theo con suối dẫn về thác Cam Ly (trước kia là đường Hùng Vương), đến thác thì một công ty nào đang khai thác, không biết sử dụng cho mục đích gì? Xem như thác Cam Ly không còn nữa! Phải chăng hồ Xuân Hương không còn nước đổ về thác này, làm cho thác không còn giá trị là thác nửa! Với tôi không cường điệu một tí nào cả, tôi cho rằng hồ Xuân Hương là trọng tâm, là linh hồn của thành phố Ðà Lạt, nếu không có hồ Xuân Hương thì cũng không còn thành phố Ðàlạt! (Quý bạn hãy thử tưởng tượng ra Hà Nội mà không có hồ Hoàn Kiếm thì có còn là Hà Nội không?!). Trường Couvent des oiseax phía bên trái đường đi đã không còn, hay ngã ba đi lên đường Huyền Trân Công Chúa đồng bào đã chiếm nhiều đất của trường, một phần lớn đất của trường củ có tên mới là Trường Phổ Thông DTNT Lâm Ðồng (xin đọc 4 chữ tắc DTNT là dân tộc người thượng) theo tôi 4 chữ tắc trên tấm bảng này nên sửa lại thành dân tộc ít người “DTIN” vẫn hay lịch sự và đẹp hơn chăng! Ði thẳng lên nửa thì nhà thờ Du Sinh, nay là nhà thờ bằng béton to lớn đẹp hơn rất nhiều! Nhớ lại ngày trước ở vùng Du Sinh này hay trên mọi nẻo đường thành phố Ðà Lạt vào độ Giáng Sinh “Christmas day” hoa Anh Ðào nở rộ trông rất đẹp, hoa này gần như chỉ có ở Ðà Lạt (bắt đầu nở vào dịp Giáng Sinh cho tới gần trước Tết Nguyên Ðán hằng năm. Tuy cũng cùng tên là hoa Anh Ðào, nhưng hoa Anh Ðào ở Nhật hay ở Washington DC nở trễ hơn vào những ngày cuối tháng 3 dương lịch. Hoa Anh Ðào Ðà Lạt là một loại hoa đặc trưng riêng của Thành Phố Ðà Lạt, cũng giống như Hoa Ðào là đặc trung của Hà Nội, hay hoa Mai Vàng là hoa đặc trưng của miền Trung, cao nguyên hay cho tới tận miền Nam của đất nước, và đặc biệt hoa Ðào hay hoa Mai chỉ nở vào dịp Tết Nguyên Ðán đón xuân sang! Tôi lại đi về đường Vỏ Tánh năm xưa, từ đường Phan Ðình Phùng chúng tôi đi đến Linh Sơn Tự không thấy gì thay đổi ở trên chùa, trước khi đến Võ Tánh cũ, bên tay phải là Lữ quán Thanh niên củ thì nay đất đai bị chiếm dụng rất nhiều, không còn gì quang cảnh cũ! Gần như tôi không nhìn ra nơi ở củ của mình là ở đâu nữa! Nhưng nói chung thành phố thay đổi trong chiều hướng tích cực thăng hoa và đi lên theo cách tiến bộ!


Qua ngày chót của đoàn, tức ngày 11 tháng 3, 2011, sau khi trả phòng chúng tôi lên xe về lại Saigon, qua hết đèo Prenn, điểm tham quan cuối cùng của đoàn là thác Prenn, tôi đã không xuống tham quan thác, vì ít ra cũng đã 4-5 lần tôi viếng thác này rồi! Tôi ngẫm nghĩ đoạn đường từ phi trường Liên Khương đến chân đèo Prenn, có thể nói vùng này thuộc địa danh Finom, đoạn đường này dài chừng gần 15 Km, được gọi là đoạn đường cao tốc rộng rãi, ở giữa phần đường ngăn cách có trồng hoa được chăm sóc cẩn thận, có 4 làn xe, mỗi bên 2 làn xe lưu thông rộng rãi! Tùng Nghĩa và Liên Khương nay được gọi chung là Liên Nghĩa có lẽ cũng thuộc huyện Ðức Trọng như trước.


Kết thúc bài này, tôi thấy thành phố Ðà Lạt đã phát triển rất nhiều về xây dựng cũng như văn hóa và trong chiều hướng đi lên một cách tốt đẹp.


Xứ Vạn Hồ (Minnesota) tháng 4 năm 2011


Hoàng Thân Vinh

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT