Thi đua Châu Á: võ trang và trị thủy

 


Ðập nước còn nguy hại hơn chiến hạm


 


Hùng Tâm/Người Việt


 


Các nước Á Châu mới nổi đều cần tới năng lượng cho công cuộc kỹ nghệ hóa. Nhưng nước cũng là loại năng lượng cần thiết không kém gì dầu thô, khí đốt hay than đá.


Trong cuộc đua kinh tế, nhu cầu làm chủ nguồn dự trữ năng lượng dẫn đến tranh chấp về chủ quyền lãnh hải và mở ra cuộc thi đua võ trang tại Á Châu như mâu thuẫn Hoa-Nhật đã cho thấy từ mấy tuần qua. Tuy nhiên, quốc tế lại ít quan tâm chú ý đến sự kiện nhiều quốc gia Á Châu đã thi đua xây đập trên những nguồn nước tiếp cận nhiều quốc gia. Á Châu hiện là nơi xây đập nhiều hơn tổng số còn lại của thế giới.


Khác với Tây phương nay đã từ bỏ việc xây đập, Á Châu thực hiện quá nhiều công trình thủy lợi và thủy điện (đập nước, hồ chứa, kênh đào dẫn nước, v.v…) và gây tranh chấp, hiềm khích và nghi ngờ giữa các nước cùng chia sẻ một dòng sông trên thượng nguồn và dưới hạ nguồn. Mối nguy xung đột vì xây đập có ý nghĩa chiến lược không kém gì cuộc thi đua võ trang tại Châu Á.


“Hồ Sơ Người-Việt” kỳ này sẽ tìm hiểu về cuộc thi đua xây đập tại Châu Á.


 


Nước là nguồn sống có hạn


 


Nước là nguồn sống không thể thiếu, nhưng nhiều khi con người lại chẳng nghĩ như vậy mà vẫn cho rằng đấy là kho trời vô tận, cũng tương tự như không khí mà chúng ta gọi là khí trời.


Về thực tế, nước không là một nguồn sống hoàn toàn có khả năng tái tạo, như hơi nước bốc thành mây rồi lại đổ xuống thành mưa và mưa trên đầu nguồn lại chảy xuống sông ngòi rồi ra đến biển và bốc thành hơi nước. Ðấy là nguồn sống có giới hạn và xứ này tận dụng hoặc tiêu hủy nguồn nước thì các xứ kia có thể bị thiệt hại. Giới kinh tế gọi đó là “zero-sum game” – kết số là số không, người này uống nhiều thì người kia bị khát.


Khi cùng chia sẻ một tài nguyên có hạn, việc giành giật có thể xảy ra.


Giữa các nước với nhau thì chuyện giành giật là một hình thái chiến tranh, dù âm thầm không gây tiếng nổ thì vẫn là chiến tranh. Người ta nên nhìn ra thực tế lạnh lùng ấy qua các kế hoạch xây đập hoặc chiếm lĩnh nguồn nước khiến các quốc gia cùng sống nhờ một dòng sông phải ứng xử theo lối đấu tranh.


Giải pháp lý tưởng là các nước nên hợp tác trong tinh thần trách nhiệm thay vì chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình mà gây hại cho các quốc gia khác. Nhưng đấy là chuyện lý tưởng và các nước độc tài hoặc thiếu dân chủ thường bất chấp lý tưởng và khơi dậy tinh thần ích kỷ của người dân hoặc gọi đó là chủ nghĩa dân tộc.


Trên thế giới, lục địa Á Châu là nơi đông dân nhất nhưng lãnh thổ quá rộng lại có “diện tích nước” rất giới hạn. “Diện tích nước” gồm có sông ngòi ao hồ để nuôi sống người dân ở ven bờ. Á Châu cũng là nơi có nhiều công trình thủy lợi nhất (70% của thế giới) chính là để giành lấy nguồn sống quý báu này.


Trong các quốc gia có diện tích nước thuộc loại ít nhất địa cầu chính là Trung Quốc, dù có hai con sông lớn của Châu Á như Hoàng Hà hay Dương Tử hoặc các mặt hồ nổi tiếng trong văn chương hay lịch sử. Khan hiếm nước là vấn đề sinh tử của Trung Quốc, có lẽ còn chiến lược hơn năng lượng.


Một khía cạnh khác của nguồn sống là đỉnh trời Hy Mã Lạp Sơn.


 


Cạn nguồn sống từ thượng nguồn


 


Sau khi tấn công Tây Tạng từ năm 1950 và hoàn toàn xâm chiếm từ năm 1959, Trung Quốc kiểm soát được một phần lớn rặng Hy Mã Lạp Sơn và các đỉnh núi tuyết – mái trời của thế giới – là nơi xuất phát các con sông lớn nhất của lục địa. Việc khai thác vô trách nhiệm trong khu vực Hy Mã Lạp Sơn này gây lũ lụt và hạn hán dưới chân núi và tạo ra hiện tượng “đẩy lui băng sơn,” làm tuyết tan núi lở, và giảm dần lượng nước chảy xuống các dòng sông lớn của Á Châu. Nó cũng nguy kịch như hiện tượng băng tuyết bị sụt giảm trên Bắc Cực.


Thế giới Tây phương cứ báo động về nạn “nhiệt hóa địa cầu” hay “hiệu ứng lồng kính” do công cuộc kỹ nghệ hóa gây ra cho trái đất và đe dọa môi sinh của con người. Nhưng thế giới đó lại câm nín trước hiện tượng có thật và đếm được là Trung Quốc tiêu hủy nguồn nước trên thượng nguồn Hy Mã Lạp Sơn.


Trung Quốc còn phá hoại nguồn sống dưới hạ nguồn qua việc xây dựng kinh đào để lấy nước tiêu tưới cho các khu vực khô cằn của họ, như lấy nước Dương Tử và cả thượng lưu Mekong chảy lên Hoàng Hà, bất kể đến tai họa cho cư dân ở dưới. Việc thiết kế các đập nước cũng nằm trong chiều hướng đó.


Nhưng Trung Quốc không là nước duy nhất trong kế hoạch này tại Á Châu.


Nhiều quốc gia khác cũng đã gây mâu thuẫn với lân bang vì xây đập trên thượng nguồn mà không quan tâm đến quyền lợi và đời sống của các nước khác. Loại chủ nghĩa dân tộc bằng đập nước là một hiện tượng mới và rất đáng ngại tại bốn khu vực. Thứ nhất là giữa Trung Quốc với hầu hết các nước láng giềng tại Á Châu do vị trí của xứ này với đỉnh trời Hy Mã Lạp Sơn; thứ hai là tại bán đảo Nam Á; thứ ba là vùng Ðông Nam Á với sông Mekong quen thuộc của Việt Nam. Sau cùng là giữa năm nước Cộng Hòa Trung Á có tên là “stan” (nghĩa là “đất của”): Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Turkmenistan (Kazakhstan là “Ðất của người Kazkh”).


“Hồ Sơ Người-Việt” nhắc đến trường hợp Trung Quốc nhưng quý độc giả không nên quên vấn đề của các nước khác, một thí dụ như đập Xayabury ở bên Lào với hậu quả bất lợi cho Việt Nam.


 


 


Bước nhảy vọt của các nước đi sau


 


Trên thế giới, đa số các đập nước đều đã được thực hiện trong khoảng 50 năm cuối của thế kỷ 20, từ 1950 đến năm 2000.


Tự thân thì đập nước là phát minh rất cổ và có đem lại lợi ích cho con người nếu được nghiên cứu và thiết kế một cách hợp lý. Những lợi ích đó là điều tiết nguồn nước và mực nước trong tinh thần “trị thủy” để tránh lũ lụt, để dùng nước tiêu tưới khu vực canh tác, để trữ nước vào mùa mưa rồi còn dùng vào mùa cạn, để dùng sức nước tạo ra điện năng (gọi là thủy điện), và dẫn nước ngọt vào các thành phố, v.v… Nhưng lợi ích trên thượng nguồn của một dòng sông có thể gây vấn đề cho xứ khác và nếu không được thiết kế hợp lý thì đã có thể gieo họa cho chính quốc gia đã thực hiện đập nước. Xin quý độc giả nghĩ đến Ðập Sông Tranh ngày nay của Việt Nam.


Các quốc gia tiên tiến Tây phương đã hiểu ra cái lẽ tương đối của lợi và hại nên không còn xây đập nữa. Trong khi ấy và trong mươi năm tới, các nước đang phát triển đều có kế hoạch và nhịp độ xây đập như trong mươi năm qua và sẽ tiến đến mức bão hòa, hết còn đất hay nước xây đập.


Hoa Kỳ là quốc gia có nhiều đập nước nhất trên lãnh thổ trước khi Trung Quốc xuất hiện với cả vạn đập nước từ mấy chục năm nay. Tại Hoa Kỳ, số đập nước được lệnh ngưng hoạt động đã vượt qua nhịp độ xây cất các đập mới. Nước Mỹ ngày nay có thể xuất cảng kỹ thuật và kỹ sư trị thủy cùng các lò turbin dùng sức nước làm ra điện nhưng không xây thêm đập vì biết quan tâm đến môi sinh. Trung Quốc thì đi sau nên muốn qua mặt các nước tiên tiến vì nghĩ đến lợi ích trước mắt của sức nước.


Giới chuyên gia đánh giá kịch thước của đập nước ở chiều cao và ở dung tích của hồ nước được ngăn trên thượng nguồn. Một đập nước được coi là “lớn” khi có chiều cao từ 15 thước và trữ lượng trong hồ là ba triệu thước khối nước trở lên. Trung Quốc khoe là đã xây dựng hơn phân nửa tổng số năm vạn (50,000) đập nước thuộc loại lớn đang hiện hữu trên mặt Ðịa cầu.


Ðấy là một thành tích vĩ đại, có thể so sánh với Vạn Lý Trường Thành!


Nếu lại nhìn vào một tấm bản đồ về vị trí của các đập nước Trung Quốc, người ta còn thấy ra ba trung tâm đáng ngại nhất: Tại miền Tây trên Hy Mã Lạp Sơn và cao nguyên Tây Tạng với việc hút nước từ nơi khác đổ ngược vào sông Hoàng Hà để tiêu tưới miền Bắc Khô cằn. Tại miền Ðông là thủy lộ nối liền Bắc Kinh với Nam Kinh. Tại Trung Nguyên ở giữa thì đấy là con đường nước ngọt từ Ðập Tam Hiệp với Bắc Kinh. Ðấy là những nơi có thể gây ra tai họa vĩ đại về môi sinh cho chính người dân Trung Quốc. Chuyện ấy chưa xảy ra thì các nước lân bang dưới hạ nguồn, từ Ấn Ðộ qua Bangladesh, Miến Ðiện, Lào, Cambodia, Việt và cả Thái Lan đều có thể bị thiệt hại, môi trường sinh sống bị thay đổi. Cụ thể là ba vựa lúa nước truyền thống của Á Châu và thế giới là Thái Lan, Việt Nam và cả Miến Ðiện sẽ bị ảnh hưởng vì bị Trung Quốc “cướp nước” ở trên đỉnh.


Khi lãnh đạo Bắc Kinh nói tới “quyền lợi cốt lõi” của Trung Quốc và nhắc đến Tây Tạng, người ta cũng nên nhớ rằng nguồn nước Hy Mã Lạp Sơn và cao nguyên Tây Tạng là chuyện chiến lược của Trung Quốc mà cũng là mối nguy sinh tử cho các lân bang.


Ðáng ngại hơn vậy, Á Châu có 57 dòng sông “quốc tế” (những con sông chảy qua nhiều quốc gia) mà chỉ có bốn dòng sông là có hiệp ước hợp tác giữa các nước liên hệ để cùng khai thác theo sự thỏa thuận chung. Còn lại, 53 dòng sông kia vẫn được “thả nổi.”


Và cường quốc mới nổi của Á Châu là Trung Quốc thì thường tự cho mình đặc quyền khai thác nguồn tài nguyên chung mà bất kể tới thiên hạ. Những gì xảy ra ngoài Ðông Hải của Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chỉ là một mặt của truyền thống ăn cướp mà thôi.


Nhưng Trung Quốc vẫn không qua khỏi định luật của tạo hóa.


 


Á Châu chết vì nước


 


Cả lục địa Á Châu vẫn có nguyên hình thể và nguồn nước ngọt như trong quá khứ mà dân số lại đông gần gấp ba và nhu cầu về nước còn cao hơn gấp bội.


Hơn nửa thế kỷ vừa qua, dân số Á Châu từ một tỷ rưỡi nay đã lên tới hơn bốn tỷ người và cần nước ngọt nhiều hơn xưa. Trong khối Á Châu, đa số quốc gia mới chỉ trở thành loại “đang phát triển” hoặc mới nổi lên khi bắt đầu kỹ nghệ hóa và đô thị hóa từ mấy chục năm nay. Ðiển hình là Trung Quốc và Ấn Ðộ rồi các nước Ðông Nam Á sau các nước Ðông Bắc Á như Nhật Bản, Nam Hàn hay Ðài Loan.


Nếu xưa kia, người ta cần nước cho canh tác và vận chuyển, ngày nay, các quốc gia cần nước còn nhiều hơn cho công nghiệp hóa: không thể khai thác hãng xưởng bằng nước biển được!


Vì thế, lục địa khô cằn nhất địa cầu là Châu Á nay đang là lục địa khát nước nhất thế giới, với lượng nước ngọt tính cho một đầu người chỉ bằng phân nửa trung bình của thế giới. Nhưng một nghịch lý có ý nghĩa toàn cầu là Á Châu hiện đang là một đầu máy kinh tế của thế giới nên lại còn cần nước hơn xưa.


Nếu nhìn vào tương lai của hai ba thập niên tới, chuyện các nước ráo riết tìm nước, giữ nước và hủy diệt nước sẽ còn tiếp tục. Trừ phi là có đại chiến vì nước. Cho nên người ta không thể quên rằng ngoài khủng hoảng vì dầu khí – và cả chiến tranh – chúng ta còn nguy cơ khủng hoảng vì (thiếu) nước. Cũng chính là nguy cơ ấy lại các khiến các quốc gia xây đập ráo riết tạo ra sự đã rồi với những dự án đầy rủi ro cho cả khu vực.


 


Kết luận ở đây là những gì?


 


Các nước Á Châu đang thi đua vì nước. Nếu dầu thô hay khí đốt hoặc than đá là những sản phẩm chiến lược cho công cuộc kỹ nghệ hóa của mọi quốc gia thì nước mới là sản phẩm sinh tử vì ảnh hưởng đến lương thực và nguồn sống của mọi người.


Khi các nước ích kỷ hoặc hung bạo lại “quốc hữu hóa” nguồn sống của người dân xứ khác thì vai trò của các chính quyền và tổ chức quốc tế trở thành một vấn đề rất đáng quan tâm. Cho đến nay, người ta chưa mấy quan tâm đến loại vấn đề này.


Trong bối cảnh chung của nạn thiếu nước, việc xây đập và lạm thác (khai thác với sự lạm dụng trên thượng nguồn) từ đầu nguồn là một nguyên nhân gây xung đột sau này. Trung Quốc là nước đứng đầu về hiện tượng lạm thác ấy.


Khi huy động dư luận quốc tế hậu thuẫn các nước cho một giải pháp đa phương ngoài Ðông Hải, người ta không nên quên yếu tố nước ngọt tại các quốc gia chẳng liên hệ gì đến Ðông Hải mà cũng là nạn nhân của Trung Quốc. Họ có thể vì quyền lợi riêng mà quan tâm nhiều hơn đến động thái của Bắc Kinh.


Sau cùng, các nước Tây phương đã tiến qua một giai đoạn phát triển khác nên rất quan tâm đến môi trường sinh sống. Chính là yếu tố môi trường đó, hơn là chuyện nhân quyền hay tôn giáo cũng có thể thuyết phục được nhiều quốc gia hay nhiều tổ chức ngoài chính phủ NGO tham gia vào cuộc đấu tranh của các quốc gia nạn nhân của Trung Quốc.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT