Giáo Sư Lê Mạnh Hùng ra mắt tập III ‘Nhìn Lại Sử Việt’

 


Nguyên Huy/Người Việt


 


Chiều hôm Chủ Nhật, 21 Tháng Mười vừa qua, tại Viện Việt Học trên đường Brookhurst, Nam California, Giáo Sư Lê Mạnh Hùng cùng nhà xuất bản “Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông” do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích chủ trương đã ra mắt tập III cuốn “Nhìn Lại Sử Việt.”










Khách tham dự buổi ra mắt sách chen nhau mua sách trong buổi ra mắt sách “Nhìn Lại Sử Việt” của GS Lê Mạnh Hùng.


Ðây là một bộ sử Việt được nhìn lại do Giáo Sư Lê Mạnh Hùng biên soạn, đã ra được hai tập đầu và nay là tập thứ ba trong tổng số 5 tập.


Giải thích tổng quát về bộ sử này, tác giả cho biết: “Bộ Nhìn Lại Sử Việt của chúng tôi gồm 5 cuốn đề cập từ thời tiền sử đến cận đại của dân tộc VN. Hai cuốn đầu từ thời tiền sử đến thời Hậu Trần đã xuất bản. Hôm nay chúng tôi xin được ra mắt cuốn thứ ba từ thời Lê Lợi đến Gia Long 1802. Bộ sử còn hai cuốn nữa, một từ 1802 đến 1945 và cuốn sau cùng là từ 1945 đến 1975.”


Tại sao lại chỉ đến 1975 mà không tiếp tục cho đến hiện tại? Tác giả giải thích: “Khi học sử ở bên Anh, một bà giáo sư người Anh có nói rằng ‘chuyện xẩy ra trong vòng 35 năm thì chưa là lịch sử. Vì, sau 35 năm những cảm tính đều đã lắng chìm nên cái nhìn sẽ khách quan hơn.”


Ðề cập đến quan niệm viết sử, tác giả cho rằng, “Lịch sử không chỉ là đưa ra sự kiện mà phải là giải thích sự kiện. Theo một sử gia đầu tiên ở phương Tây thì viết sử có hai trường phái, một là từ những người hùng tạo ra chiến tranh làm thay đổi cái thời đang sống của con người. Và hai là do định mệnh. Ðó là những làn sóng, chiều hướng xã hội cuốn đi không lệ thuộc vào con người. Tôi nhìn lại sử Việt theo thuyết định mệnh.”


Sau khi đã trình bày khái quát về quan niệm viết sử, tác giả nêu ra một vài sự kiện trong lịch sử được nhìn lại.


Trước hết tác giả nhận định rằng thế giới ngày xưa không nước nào có “họ.” Những “họ” của người Việt như ngày nay ta thấy là do sự Hán hóa của người Tầu áp đặt qua cả ngàn năm người Việt bị lệ thuộc. Riêng dân tộc Chàm tách ra sớm nên đã đi vào văn hóa của Ấn Ðộ nên không có họ theo kiểu người Việt.


Nhận định thứ hai tác giả nêu ra là sử Việt Nam không thấy đề cập đến những thương buôn, kỹ thuật. Ðó là vì từ thế kỷ 15, Việt Nam phải chịu sự cai trị của nhà Minh, xã hội đã bị phân chia thành những giai cấp trong đó tinh thần trọng “sĩ” được nêu cao do đó mà sử không chép đến các giai cấp khác ngoài giai cấp nho sĩ.


Nhận định thứ ba, tác giả đưa ra là xã hội Việt Nam đã manh nha tinh thần dân chủ khá sớm. Ðó là vào thời nhà Trần với hai hội nghị có một không hai trong lịch sử, Hội Nghị Bình Than cho vương hầu và Hội Nghị Diên Hồng cho thứ dân. Theo tác giả, nếu như tinh thần ấy được duy trì thì nước Việt Nam có thể cũng là một nước Nhật thứ hai ở Ðông Nam Á.


Nhận định thứ tư là vào thời nhà Nguyễn, vua Minh Mạng đã có ý thức canh tân nhưng lại không triệt để. Chẳng hạn như đã cấp cho quan binh triều đình súng ống mà so với quân lính của Pháp lúc bấy giờ không thua sút. Nhưng chỉ ít năm sau khi Pháp đem quân đến xâm chiếm, thì súng của quân Pháp đã bỏ xa loại súng của quân binh triều đình vì kỹ nghệ súng đạn phương Tây đã cải tiến rất nhiều không chỉ dừng lại một chỗ. Cũng vào thời Minh Mạng, nhà vua đã mua hẳn lại một chiến thuyền của phương Tây về tháo dỡ từng phần để bắt chước đóng những chiến thuyền cho thủy quân của triều đình. Nhưng chương trình này đã sớm chấm dứt.


Với những tìm tòi và dựa trên nhiều tài liệu khoa học xã hội của thời đại, việc nhìn lại sử Việt, theo tác giả Lê Mạnh Hùng, đã cho chúng ta rất nhiều cái nhìn mà những bộ sử trước đây còn thiếu, trống.


Không kể những bộ cổ sử của Việt Nam từ các đời Trần, Nguyễn-Gia Long, trong khoảng thời gian cận đại, nhiều bộ sử đã được các nhà nghiên cứu sử viết ra. Bộ sử được nhiều người biết đến và đã được dùng trong chương trình giáo dục quốc gia từ trước 1945 đến nay là bộ “Việt Nam Sử Lược” của học giả Trần Trọng Kim. Trong khi đó các nhà viết sử như Phạm Văn Sơn với “Việt Sử Tân Biên” (7 tập), “Việt Sử Toàn Thư” và gần đây như Giáo Sư Phạm Cao Dương với “Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam” (mới ra được quyển I), Giáo Sư Trần Gia Phụng với “Việt Sử Ðại Cương” (đã ra đến tập V) cũng đã bỏ công viết về lịch sử của dân tộc Việt. Nhìn chung thì hầu hết các nhà viết sử thời cận đại đều có một quan niệm chung là “Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những công việc của người ta đã làm để hiểu cho rõ những vận hội trị loạn của một nước, những trình độ tiến hóa của một dân tộc. Chủ đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết cái sự sinh hoạt của người trước đã phải lao tâm lao lực như thế nào mới chiếm giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này” (Trần Trọng Kim trong tựa của bộ Việt Nam Sử Lược).


Nhưng với thời đại tiến hóa nhanh chóng ngày nay đã giúp cho người viết sử thêm nhiều phương tiện để nhìn lại lịch sử. Những khám phá mới trong các lãnh vực khảo cổ, nhân văn, xã hội đã giúp cho người viết sử ngày nay soi rọi được rõ nét hơn vào những diễn biến trong lịch sử để suy ra được khách quan về lịch sử của một dân tộc. Chính những khám phá mới này đã giúp cho người viết sử Việt Nam phân định được những sai biệt giữa sử Trung Hoa và sử Việt khi viết về Hai Bà Trưng, viết về bà Triệu, viết về vua Quang Trung v.v…


Trong phần đàm thoại sau phần ra mắt sách, tác giả Lê Mạnh Hùng cũng có nêu ra một sự khác biệt khi sử Tầu đề cập đến Hai Bà đã không nhắc gì đến Thi Sách cho việc Hai Bà chỉ là một cuộc nổi lọan. Trong khi sử Việt nhắc đến Thi Sách như là một trong hai nguyên nhân chính khiến Hai Bà dấy quân đánh quân Ðông Hán để giữ yên bờ cõi (thù nhà nợ nước). Về việc giữ yên bờ cõi (nợ nước) là cái nhìn của hậu thế mà vào thời đại ấy quan niệm về Quốc Gia Dân Tộc chắc cũng còn mờ nhạt chưa được hình thành hẳn.










GS Lê Mạnh Hùng trình bày về quan niệm viết sử trong buổi ra mắt sách “Nhìn Lại Sử Việt.”


Một điểm khác nữa là sử Việt cho đến nay, phần lớn đều dựa vào sách sử của cha ông để lại do những vị quan trong triều được vua ủy nhiệm đứng ra ghi chép (không phải là soạn thảo) nên không tránh được “ảnh hưởng tư tưởng thời phong kiến, đế quốc” (Phạm Văn Sơn trong lời tựa cuốn “Việt Sử Toàn Thư” hay “Nhà làm sử lại là người làm quan, vua sai coi việc chép sử, cho nên dầu thế nào sự chép sử cũng không được tự do, thường có ý thiên vị về nhà vua, thành ra trong sử chỉ cần chép những chuyện quan hệ đến nhà vua hơn là những chuyện quan hệ đến sự tiến hóa của người dân trong nước” (Trân Trọng Kim-đã dẫn).


Nên, sử Việt Nam cần được viết lại càng nhiều càng tốt miễn là người viết hay một nhóm người viết, kể cả Viện Sử Học ở trong nước hiện nay không có ý định bẻ cong lịch sử như việc coi Vua Quang Trung nêu “ngọn cờ Ðào” là đã có ý thức cộng sản.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT