
Phá thai
Romney: Tuy cho biết cá nhân mình không chấp nhận phá thai, ông từng nói hậu thuẫn phán quyết Roe v. Wade khi ra tranh cử năm 1994 và 2002. Tuy nhiên, trong kỳ vận động để đại diện đảng Cộng Hòa ra tranh cử tổng thống năm 2008, ông nhấn mạnh lập trường chống phá thai, ngoại trừ trường hợp bị hiếp dâm, loạn luân, hay để cứu mạng sống của người mẹ. Vào năm 2012, ông nói muốn Tối Cao Pháp Viện Mỹ hủy phán quyết Roe v. Wade.
Obama: Vẫn luôn hậu thuẫn quyền phá thai và dùng vấn đề này để tấn công ông Romney, đặc biệt là trong các quảng cáo tại Bắc tiểu bang Virginia và Denver ở Colorado.
Những người chống đối cho rằng luật y tế liên bang cho phép dùng tiền thuế của dân để tài trợ phá thai-cáo buộc mà Tòa Bạch Ốc bác bỏ; ông Obama cũng đưa ra một sắc lệnh của tổng thống theo đó bảo đảm rằng tiền từ quỹ liên bang không được dùng để trả cho dịch vụ phá thai.
Giới chống đối cũng nói rằng luật y tế đòi hỏi các chương trình bảo hiểm sức khỏe cung cấp miễn phí các phương tiện ngừa thai, vi phạm tự do tín ngưỡng của các cơ sở Công Giáo. Luật y tế miễn cho các tôn giáo không phải thi hành điều này, nhưng không miễn cho các cơ quan liên hệ tới tôn giáo như trường đại học, các cơ quan thiện nguyện, hay bệnh viện. Vào Tháng Hai năm 2012, ông Obama loan báo một thỏa hiệp theo đó phụ nữ làm việc cho các nhóm có liên hệ với tôn giáo này sẽ vẫn được cung cấp miễn phí phương tiện ngừa thai nhưng sẽ trực tiếp qua các công ty bảo hiểm.
Afghanistan
Romney: Chưa cho thấy rõ ràng quan điểm về Afghanistan. Liên tiếp phản đối việc đặt ra thời điểm rút quân, nói rằng điều này cho thấy sự “ngây thơ” của Tổng Thống Obama. Nhưng sau đó ủng hộ việc rút quân năm 2014, cùng thời điểm mà ông Obama đưa ra. Cũng trong một cuộc tranh luận trong cuộc bầu cử sơ bộ đảng Cộng Hòa, ông làm nhiều người ngạc nhiên khi nói rằng, “nhưng tôi cũng nghĩ rằng chúng ta đã học được một điều là các binh sĩ của chúng ta không nên ra chiến trường để chiến đấu cho độc lập của một quốc gia khác. Chỉ có người dân Afghanistan mới dành được độc lập cho Afghanistan từ tay Taliban.” Trong các cuộc tranh luận sau đó, ông nói sẽ không thương thảo với Taliban mà sẽ đánh bại họ. Tuy nhiên điều này sẽ khiến cho quân đội Mỹ ở lại Afghanistan lâu hơn.
Obama: Năm 2009, ông Obama loan báo việc đưa thêm 30,000 quân Mỹ đến Afghanistan. Ba năm sau đó, chính phủ Mỹ cho hay quân Mỹ sẽ rút khỏi Afghanistan vào năm 2014-nhưng ông Obama cũng ký một thỏa ước theo đó hứa hẹn sẽ tiếp tục trợ giúp phía Afghanistan trong khi họ nhận lãnh trách nhiệm tự bảo vệ an ninh, cho tới năm 2024. Cũng trong thỏa thuận này, Mỹ sẽ được sử dụng các cơ sở quân sự ở Afghanistan nhưng không có ý duy trì các căn cứ lâu dài nơi này. Tuy nhiên, bạo động đang lên cao ở Afghanistan thời gian gần đây và lực lượng NATO đang phải đối phó với vấn đề bị những người mặc quân phục chính phủ Afghanistan bất ngờ nổ súng hạ sát.
Kinh tế
Romney: Theo chương trình kinh tế ông công bố hồi Tháng Chín năm 2012 và bài diễn văn về kinh tế ông đọc hồi Tháng Hai 2012, ông Romney muốn cắt giảm mức thuế lợi tức cá nhân (giảm 20%), thuế đánh vào các công ty (giảm tới 25%), cũng như thuế đánh vào lợi tức từ đầu tư và thuế lãi vốn (capital gain).
Thêm vào đó, ông kêu gọi giảm bớt các luật lệ kiểm soát, gia tăng sản xuất năng lượng nội địa và mở rộng tự do mậu dịch. Và ông cũng tin rằng phát triển kinh tế đòi hỏi phải có sự cẩn thận hơn trong cách chi tiêu của chính phủ-ủng hộ việc đặt ra giới hạn chi tiêu cũng như có một tu chính án nhằm buộc chính phủ phải cân bằng ngân sách.
Mới gần đây, ông Romney tóm tắt thông điệp về kinh tế của ông vào năm điểm chính: 1) khai thác lợi thế tài nguyên năng lượng nội địa, 2) giúp cho người dân Mỹ khả năng nghề nghiệp cần có, 3) đạt các thỏa thuận mới về mậu dịch, 4) cân bằng ngân sách, và 5) giảm thuế.
Obama: Biện pháp kinh tế đáng kể nhất của ông là đạo luật kích thích kinh tế trị giá $787 tỉ, vốn theo các quan sát viên độc lập (như Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội) cho rằng đã giúp giảm thiểu mức thất nghiệp và gia tăng phát triển kinh tế-tuy nhiên không đưa đến sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ.
Vào Tháng Tám năm 2012, mức thất nghiệp ở khoảng 8.1%, vốn thấp hơn so với thời điểm tháng đầu tiên khi ông Obama lên cầm quyền (và thấp hơn so với mức 10.0% hồi Tháng Tám năm 2009). Mức thất nghiệp đã luôn ở trên 8% trong suốt 43 tháng liền.
Hồi Tháng Chín năm 2011-sau một cuộc đối đầu về mức trần nợ-Obama đưa ra dự luật về việc làm, mang tên American Jobs Act, trong đó có cả việc gia hạn giảm thuế sổ lương cũng như bảo hiểm thất nghiệp, giảm thuế cho các tiểu thương mướn thêm nhân viên, và đầu tư vào lãnh vực giao thông cũng như xây thêm trường học. Quốc Hội thông qua một số biện pháp (như giảm thuế sổ lương và bảo hiểm thất nghiệp) nhưng không có hành động gì đối với các mục khác.
Y tế
Romney: Chương trình y tế do ông Romney đưa ra ở Massachusetts được nhiều người coi là khuôn mẫu cho kế hoạch y tế toàn quốc của Tổng Thống Obama. (Romney mới gần đây xác nhận là “Ông của Obamacare”.) Ông Romney không chối bỏ kế hoạch y tế của mình, nhưng đưa ra một nhận định rằng kế hoạch đó tốt cho tầm vóc tiểu bang nhưng không nên được áp dụng ở cấp liên bang.
Nếu đắc cử, ông Romney hứa sẽ hủy bỏ luật Affordable Care Act và thay thế bằng các điều khoản giới hạn hơn như cải cách luật về sai phạm khi hành nghề y tế và bảo đảm rằng không ai có tiền sử bệnh tật bị các công ty bảo hiểm từ chối không nhận. Ðiều sau cùng này từng làm cho ông Romney bị chỉ trích khi ông tuyên bố trong chương trình Meet the Press rằng “Tôi sẽ không hủy bỏ tất cả mọi cải cách y tế. Dĩ nhiên cũng có một số điều tôi đồng ý trong luật cải cách y tế và tôi muốn duy trì.” Sau đó, ông lại nói rằng “ObamaCare phải bị hủy bỏ hoàn toàn”. Nhưng ông nói thêm rằng sẽ đưa ra một chương trình gồm cả việc không để cho người dân “bị mất bảo hiểm nếu họ đau ốm”.
Obama: Khá nhiều vốn chính trị đã phải được huy động-và điều này cũng có thể là lý do khiến đảng Dân Chủ mất thế đa số ở Hạ Viện năm 2010-tuy nhiên đạo luật y tế mang tên Affordable Care Act là thành quả nội trị lớn nhất của Tổng Thống Obama cho đến nay. Ðạo luật này sau đó trở thành mục tiêu của nhiều đơn kiện ở cấp tiểu bang và sau đó được Tối Cao Pháp Viện ra phán quyết là hợp hiến với tỉ số 5 thuận, 4 chống. Ðiểm chính trong các đơn kiện này là vấn đề buộc tất cả mọi người lớn ở Mỹ phải có bảo hiểm y tế. Sự ủng hộ của ông Obama dành cho điều khoản này có thể được coi là sự thay đổi ý kiến lớn nhất của ông từ trước đến nay. Ông từng lên tiếng bài bác điều này trong gần hai năm, rồi sau đó ban hành điều này khi ở chức tổng thống. Tuy phía Cộng Hòa chế diễu đạo luật Affordable Care Act là “ObamaCare,” Tổng Thống Obama nay lại lấy làm thích thú với danh hiệu này.
Di trú
Romney: Trong cuộc tranh cử sơ bộ đảng Cộng Hòa năm 2007-2008 và 2011-2012, ông Romney chống lại việc cải tổ toàn diện luật di trú, dù rằng ông có vẻ đồng ý với việc mở con đường cho người di dân bất hợp pháp tiến đến việc nhập tịch Mỹ trong một cuộc phỏng vấn năm 2006. Ông cũng kêu gọi xây một bức tường hay hàng rào giữa Mỹ và Mexico. Tuy nhiên sau khi Tổng Thống Obama loan báo chính sách mới theo đó sẽ không trục xuất một số thành phần trẻ thuộc giới di dân bất hợp pháp, ông Romney cho hay sẽ đưa ra một giải pháp dài hạn cho vấn đề di dân bất hợp pháp (tuy nhiên ông Romney từ chối không cho biết là có hủy bỏ chính sách của ông Obama hay không, nếu ông đắc cử).
Cũng trong cuộc bầu cử sơ bộ năm 2012, ông Romney nói rằng sẽ phủ quyết luật DREAM Act; ông trưng dẫn sự ủng hộ của bộ trưởng nội vụ tiểu bang Kansas, Kris Kobach (người giúp soạn bộ luật di trú nhiều tranh cãi ở tiểu bang Arizona); và ông kêu gọi sự “tự trục xuất” của giới di dân bất hợp pháp, nói rằng “Người ta tự quyết định là tốt hơn nên trở về nước vì không thể kiếm được việc làm nơi đây vì không có giấy tờ hợp lệ cho phép họ được làm việc ở đây.”
Obama: Năm 2008 ông vận động việc có cải cách toàn diện trong vấn đề di trú bất hợp pháp, nhưng không thành công. Sau đó, ông Obama đổ lỗi cho sự chống đối từ phía Cộng Hòa tại Hạ Viện (kể cả những người trước đó từng ủng hộ điều này).
Ông cũng tìm cách thúc đẩy luật DREAM Act-nhằm cho một số thuộc thành phần con cái người di dân bất hợp pháp có cơ hội trở thành hợp pháp-nhưng dự luật này không có đủ 60 phiếu cần thiết tại Thượng Viện để được đưa ra thảo luận.
Sau khi chính phủ ông trục xuất một con số kỷ lục thành phần di dân bất hợp pháp, ông Obama hôm 15 Tháng Sáu 2012 loan báo sẽ không trục xuất thành phần di dân trẻ bất hợp pháp, nếu họ tốt nghiệp trung học, phục vụ trong quân đội, và không có hồ sơ phạm pháp-một biến thể của DREAM Act.
Iran
Romney: Ông Romney mạnh mẽ chỉ trích ông Obama về vấn đề này, gọi đây có lẽ là “thất bại lớn nhất” của tổng thống. Ông cho rằng chính sách của ông Obama không ngăn được Iran trong việc theo đuổi kế hoạch chế tạo võ khí nguyên tử. Vì mối đe dọa của Iran đối với Israel, Iran trở thành một vấn đề gây nhiều sôi nổi trong thời gian tranh cử sơ bộ của đảng Cộng Hòa.
Kế hoạch của ông Romney đối với Iran gồm” 1) biểu dương sức mạnh quân sự và sự sẵn sàng có biện pháp ứng phó; 2) tăng cường hợp tác quân sự và tình báo với Israel để “sẵn sàng đối phó với Iran; 3) theo đuổi việc đưa ra đợt trừng phạt thứ năm đối với chế độ Tehran; 4) truy tố Ahmadinejad về “tội diệt chủng theo khoản III của quy ước quốc tế về Ngăn Cản và Trừng Phạt Tội Diệt Chủng”; và 5) ủng hộ phía đối lập ở Iran.
Obama: Chính phủ Obama theo đuổi các biện pháp ngoại giao với Iran, rồi sau đó là các biện pháp trừng phạt cứng rắn qua Liên Hiệp Quốc, và ngay cả việc dùng chiến tranh tin học. (Mỹ nghe nói có liên hệ trong vụ tấn công hệ thống máy điện toán trong một nhà máy nguyên tử của Iran.) Tổng Thống Obama có mối liên hệ không suôn sẻ với thủ tướng Israel, ông Netanyahu, một phần vì trước đó ông Obama đòi Israel phải ngưng việc phát triển các khu định cư để có thể tiếp tục tiến trình hòa đàm giữa Israel và Palestine. Ông Netanyahu kêu gọi Mỹ phải vạch ra lằn ranh rõ rệt không thể vượt qua cho Iran, một điều mà Tòa Bạch Ốc và Bộ Ngoại Giao từ chối không làm.
Medicare
Romney: Ông Romney coi như ủng hộ giải pháp mới nhất do ông Ryan đưa ra trong đề nghị ngân sách của ông ta, vốn sẽ thay đổi cấu trúc Medicare bằng cách cho thành phần cao niên tương lai một số tiền-phía Dân Chủ gọi là “phiếu mua-voucher”, trong khi phía Cộng Hòa gọi là “hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm”-để họ tự mua bảo hiểm y tế. Theo kế hoạch của ông Ryan, giới cao niên tương lai sẽ có sự lựa chọn mua bảo hiểm y tế từ các công ty tư nhân hay qua chương trình Medicare truyền thống.
Năm 2011, Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (CBO) nói rằng kế hoạch đầu tiên do ông Ryan đưa ra-trong đó không cho sự lựa chọn được ở lại với chương trình Medicare-sẽ buộc phần lớn giới cao niên phải trả thêm tiền cho việc chăm sóc y tế hơn là với chương trình Medicare hiện nay.
Ông Romney nhấn mạnh rằng bất cứ sự thay đổi nào trong Medicare cũng sẽ chỉ áp dụng cho giới cao niên tương lai (bắt đầu từ năm 2022) và giới cao niên thuộc thành phần có lợi tức thấp sẽ nhận được thêm các quyền lợi y tế. Tuy nhiên ông cũng kêu gọi tăng tuổi được hưởng Medicare.
Ông Romney cũng đáp trả chỉ trích từ phía Dân Chủ nói rằng chương trình của Romney-Ryan sẽ thay đổi Medicare rất nhiều-bằng cách nói rằng ông Obama lấy $716 tỉ từ chương trình Medicare để trả cho các chi phí trong luật y tế mới.
Obama: Thay vì có các thay đổi lớn lao trong chương trình Medicare như ông Romney và đảng Cộng Hòa đề nghị, ông Obama ủng hộ việc chỉ có các điều chỉnh để chương trình hữu hiệu hơn. Những điều chỉnh này gồm cả việc đòi giới cao niên giàu có phải trả thêm tiền và giảm sự trợ giúp dành cho các công ty dược phẩm. Tuy nhiên, cải cách lớn nhất của ông Obama là luật y tế, theo đó thành lập một hội đồng có tên Independent Payment Advisory Board (với các thành viên do tổng thống chọn và được Thượng Viện chấp thuận) với nhiệm vụ tìm ra cách tiết kiệm cho chương trình Medicare.
Luật y tế cũng tìm ra $716 tỉ tiết kiệm được từ chương trình Medicare (phần lớn là tiền trả cho các nhà cung cấp dịch vụ và công ty bảo hiểm, chứ không là tiền trả cho người thụ hưởng), vốn giúp quỹ điều hành chương trình này có đủ tiền hoạt động cho đến năm 2024.
Trong cuộc thảo luận về trần nợ, theo Huffington Post, ông Obama đề nghị tăng tuổi được hưởng Medicare từ 65 lên 67 để phía Cộng Hòa chấp thuận việc tăng thuế.
An sinh xã hội
Romney: Ông Romney ủng hộ việc tăng tuổi nghỉ hưu cho giới cao niên tương lai để giúp quỹ An Sinh Xã Hội vững chắc hơn. Ông muốn người thụ hưởng thuộc thành phần nghèo được hưởng nhiều quyền lợi hơn và giới giàu có hưởng ít hơn.
Obama: Ông Obama kêu gọi có sự hợp tác của lưỡng đảng để đưa ra biện pháp giúp quỹ An Sinh Xã Hội được vững chắc. Ông ủng hộ việc tăng mức lợi tức phải chịu thuế An Sinh Xã Hội (hiện ngừng lại ở mức $107,000) để có thêm tiền cho chương trình này. Ông chống lại việc tăng tuổi nghỉ hưu.
Syria
Romney: Ông Romney kêu gọi lật đổ chế độ Assad, khởi sự bằng việc Mỹ và đồng minh võ trang thành phần nổi dậy. Kế hoạch của ông Romney có thể tóm tắt như sau: 1) võ trang phía nổi dậy; 2) thúc đẩy có các biện pháp trừng phạt tại Liên Hiệp Quốc; 3) kêu gọi Saudi Arabia và Thổ Nhĩ Kỳ có áp lực chính trị để bảo vệ thường dân; và 4) loan báo rằng Mỹ sẽ ủng hộ chính phủ hậu Assad.
Obama: Cũng như đã làm ở Libya, ông Obama quyết định không công khai có hành động can thiệp quân sự ở Syria. Thay vào đó, ông để cho kế hoạch hòa bình của đặc sứ Liên Hiệp Quốc Annan có cơ hội thành tựu. Nhưng khi điều này rõ ràng là sẽ thất bại, ông Obama kêu gọi ông Assad từ chức và chấp thuận việc hỗ trợ bí mật cho phía nổi dậy-dù rằng tới mức nào vẫn là điều không rõ ràng. Ông Obama nói rằng việc chính phủ Syria sử dụng hay di chuyển võ khí hóa học sẽ bị coi là “vượt lằn ranh giới hạn” và điều này có thể khiến ông xem lại vấn đề gửi quân đến Syria.




























































































































