Nữ quân nhân trong vai trò tác chiến


HOA KỲ –
Hôm Thứ Năm, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ giải tỏa lệnh có từ năm 1994, cấm giao cho nữ quân nhân nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu trong các đơn vị bộ binh nhỏ. Các tư lệnh quân binh chủng tuy nhiên sẽ còn phải nhận định và đề nghị là có còn nên tiếp tục duy trì lệnh cấm nữ quân nhân trong một số đơn vị lực lượng đặc biệt như SEALS và Delta Force hay không.









Một nữ quân nhân Do Thái đứng bên khẩu đại liên của xe thiết quân vận trên đường hành quân đến biên giới Israel-Gaza trong cuộc xung đột năm 2009. (Hình: AP/Sebastian Scheiner)


Trong thực tế cho đến nay, phụ nữ đã đảm nhận nhiều công tác chiến đấu trực tiếp như phi công máy bay chiến đấu và trực thăng vận tải hay võ trang. Trên chiến trường Iraq và Afghanistan nữ quân nhân các ngành tiếp vận, quân cảnh và nhiều loại công tác khác trong một số trường hợp buộc phải tham gia chiến đấu không khác gì các đồng ngũ nam giới.


Trong lịch sử của tất cả các dân tộc đều đã thấy chiến binh phụ nữ. Nước Pháp có Jeanne d’Arc và trong kháng chiến quân thời Thế Chiến II. Việt Nam có Hai Bà Trưng, Bùi Thị Xuân cùng không ít nữ du kích miền Bắc và miền Nam Việt Nam của phía Cộng Sản trong cuộc chiến tranh trước 1975.


Nữ chiến binh Do Thái đã chính thức được dùng ngay từ khi Israel lập quốc năm 1948. Phụ nữ Do Thái có nghĩa vụ quân sự 2 năm trong khi nam giới là 3 năm. Tuy nhiên theo luật, nữ binh Do Thái không được nhận công tác trực tiếp chiến đấu cho đến năm 2000 khi Israel bắt đầu tổ chức những tiểu đoàn hỗn hợp cả nam và nữ. Hiện nay phụ nữ được phép tham gia trong hơn 90% công tác quân sự, bao gồm những sứ mạng có mức nguy hiểm cao như phi công chiến đấu, phòng không, pháo binh và thủy thủ đoàn trên các tiểu đĩnh tuần tiễu hay xung kích. Tiểu đoàn Caracal gồm 60% nữ quân nhân phụ trách nhiệm vụ biên phòng ở biên giới Jordan và Ai Cập là vùng tương đối yên tĩnh. Năm lữ đoàn bộ binh chiến đấu chủ lực của quân đội Israel hoàn toàn không có nữ quân nhân.


Phụ nữ trong quân đội Canada mới chỉ đảm nhận khoảng 14% các loại công tác trong đó 2.4% công tác được coi là trực tiếp chiến đấu. Trong chiến tranh ở Afghanistan, đến nay đã có ít nhất 3 nữ quân nhân Canada tử trận.


Nữ quân nhân chiếm 9% trong quân đội Anh, lực lượng quân sự hoàn toàn là chuyên nghiệp và tình nguyện. Anh quốc không cho phép phụ nữ tham gia các đơn vị đảm nhận sứ mạng “tiêu diệt địch quân”, nhưng có thể là phi công máy bay chiến đấu, làm việc trên chiến hạm, trong đơn vị pháo binh, công binh. Tuy vậy những nhiệm vụ khác như tiếp vận, quân y… không hẳn là kém nguy hiểm ngoài chiến trường.


Pháp có 15% phụ nữ trong quân lực, tỷ lệ cao nhất ở các nước Âu Châu. Không có luật cấm nữ quân nhân giữ nhiệm vụ chiến đấu nhưng phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Martin Klotz giải thích rằng nhiều phụ nữ không mang nổi trang bị căn bản 50kg và thường không đủ chỗ ở trong tàu ngầm, 53% nữ quân nhân Pháp phục vụ trong ngành quân y và 21% trong không quân.


Sau Thế Chiến II, Ðức không cho phụ nữ gia nhập quân đội; cho tới 1970 mới bắt đầu nhận một ít vào quân y và quân nhạc. Từ 2001, phụ nữ được phép gia nhập tất cả mọi binh chủng với điều kiện đáp ứng đầy đủ mọi định chuẩn về thể lực như nam giới. Hiện nay nữ quân nhân chiếm 9% trong quân lực Ðức.


New Zealand năm 2000 giải tỏa tất cả mọi hạn chế nữ quân nhân trong quân lực, kể cả các bộ binh. Tuy vậy nữ phát ngôn viên Kirsty Taylor-Doig cho biết chưa một phụ nữ nào vượt qua được những định chuẩn khắt khe đòi hỏi của lực lượng đặc biệt. Quân đội New Zealand có 16% là phụ nữ, nhiều nhất trong hải quân, chiếm 22%.


Các quốc gia Bắc Âu dẫn đầu về nam nữ bình đẳng trong quân đội. Từ 1985, Na Uy cho phép phụ nữ tham gia tất cả mọi ngành, kể cả lực lượng đặc biệt. Ðan Mạch, Thụy Ðiển, Phần Lan cũng theo chính sách này. Lithuania và Estonia, hai nước Cộng Hòa vùng biển Baltic trong Liên Bang Xô Viết cũ đã đưa nữ quân nhân vào nhiệm vụ chiến đấu ở Iraq và Afghanistan. (H.C.)

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT