Thuế nhập cảng – lợi và hại

Hiếu Chân/Người Việt

Từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc vào Tháng Giêng 2025, Tổng Thống Donald Trump liên tục sử dụng thuế nhập cảng (tariff) như một phương thuốc thần để chữa những căn bệnh mãn tính của nền kinh tế Mỹ. Nhưng thuế quan là con dao hai lưỡi. Chính sách tariff của chính quyền Trump cho đến nay dường như lợi bất cập hại.

Tàu hàng cập cảng Los Angeles, California, hôm 18 Tháng Bảy. (Hình minh họa: Mario Tama/Getty Images)

Nhưng trong cuộc phỏng vấn của chương trình “Fox & Friend” hôm 28 Tháng Bảy, 2026, ông Trump vẫn khăng khăng rằng chính sách tariff của ông đang tạo ra “của cải” cho người Mỹ, “mang lại hàng trăm tỷ Mỹ kim” và chê trách Tối Cao Pháp Viện (TCPV) gây khó cho việc thực thi chính sách thuế quan đẹp đẽ đó. Sự thật thế nào?

Chẩn bệnh kinh tế Mỹ  

Trong những bài toán kinh tế mà chính quyền Trump phải tìm lời giải thì có hai bài khó nhất: một là cân bằng thương mại, sao cho giá trị hàng hóa Mỹ bán ra nước ngoài hằng năm phải nhiều hơn hoặc ngang với giá trị hàng hóa mà nước Mỹ nhập cảng và hai là vực dậy sản xuất công nghiệp trong nước đã suy sụp sau mấy thập niên “toàn cầu hóa kinh tế”: công việc làm chạy ra nước ngoài, nhà máy xí nghiệp đóng cửa, hàng triệu người lao động rơi vào cảnh thất nghiệp… Tình trạng hàng hóa khan hiếm trong thời kỳ đại dịch COVID-19 cho thấy mối nguy của nước Mỹ khi phụ thuộc nhiều vào hàng hóa nhập cảng để duy trì cuộc sống bình thường.

Ông Trump cho rằng căn bệnh của nền kinh tế là do các đối tác và bạn hàng khắp thế giới lợi dụng sự thông thoáng của thị trường Mỹ, lũng đoạn tỷ giá, trợ cấp bất hợp pháp cho hàng xuất cảng của họ trong lúc hạn chế nhập cảng hàng Mỹ, dẫn tới cạnh tranh không công bằng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp Mỹ. Giải pháp của ông là dùng đòn thuế quan để gây áp lực, buộc các nước gia tăng mua hàng hóa của Mỹ và/hoặc các công ty chuyển sản xuất vào Mỹ để được miễn giảm thuế, từ đó tạo công ăn việc làm cho người Mỹ và vực dậy nền công nghiệp hàng tiêu dùng Mỹ.

Độc đáo “tariff-man”

Ông Trump tự nhận mình là một “tariff-man,” coi “tariff” là chữ đẹp nhất trong từ điển và sử dụng tariff để giải quyết gần như mọi vấn đề đối ngoại. Có thể nói, cách ông Trump sử dụng tariff là rất độc đáo, không lường trước được và xưa nay chưa từng thấy. Có điều, sự lạm dụng đòn thuế quan, đánh thuế tràn lan không phân biệt bạn thù đang bị phản tác dụng, vừa không đạt những mục tiêu nhắm tới, vừa làm cuộc sống của người Mỹ thêm khó khăn.

Trong nhiệm kỳ đầu (2017-2021) ông mở màn cuộc thương chiến với Trung Quốc – nước có thặng dư thương mại với Mỹ lớn nhất – bằng quyết định đánh thuế 25% lên $300 tỷ hàng Trung Quốc nhập cảng; buộc Bắc Kinh phải tăng mua nông sản, phi cơ của Mỹ, thu hẹp sự chênh lệch về thương mại giữa hai nước.

Thừa thắng xông lên, sang nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump tiếp tục tung ra nhiều biện pháp thuế quan mới, đợt thuế này tiếp đợt thuế khác, không biết đâu mà lường. Thuế quan được dùng để buộc Canada, Mexico và Trung Quốc phải ngăn chặn việc buôn lậu ma túy tổng hợp fentanyl vào Mỹ. Thuế quan đánh vào các mặt hàng nhôm, thép nhằm vực dậy ngành luyện kim đang ngắc ngoải của Mỹ… Rầm rộ nhất là đợt đánh thuế tương hỗ (reciprocal tariff) đầu Tháng Tư 2025 mà ông Trump kiêu hãnh gọi là “Ngày Giải Phóng” – với ý nghĩa, từ nay nước Mỹ sẽ được “giải phóng” khỏi ách bóc lột, lợi dụng của nước ngoài. Dựa trên đạo Luật Quyền Hạn Kinh Tế Khẩn Cấp Quốc Tế (IEEPA) năm 1977, ông đánh thuế 180 quốc gia, từ mức 10% đến 50% giá trị hàng nhập cảng tùy vào mức thặng dư thương mại của từng nước trong buôn bán với Mỹ.

Tháng Hai năm nay, TCPV phán quyết tổng thống không có thẩm quyền đặt ra chính sách thuế, thẩm quyền thuế quan thuộc về Quốc Hội; chính phủ Trump buộc phải chấm dứt việc thu thuế quan tương hỗ, hoàn trả hàng trăm tỷ đã thu của các công ty nhập cảng. Nhưng Tòa Bạch Ốc nhanh chóng xoay sang thay thế bằng mức thuế toàn cầu 10%, có hiệu lực trong 150 ngày, căn cứ vào Mục 122, Đạo Luật Thương Mại 1974 (Trade Act of 1974), cho phép tổng thống “phụ thu” thuế nhập cảng để cân bằng ngân sách quốc gia.

Thứ Sáu tuần trước, chính sách thuế này hết hiệu lực, chính quyền Trump lại thay bằng một biện pháp mới: đánh thuế từ 10% đến 12.5% lên hàng hóa của 60 quốc gia với lý do các nước này đã không tích cực ngăn chặn tình trạng lao động cưỡng bức (forced labor) trong nền kinh tế của họ. Căn cứ pháp lý của biện pháp thuế mới là Mục 301 của Đạo Luật Thương Mại 1974, cho phép điều tra và đánh thuế các hoạt động thương mại không công bằng.

Làm sao để thuế quan có tác dụng tốt?

Xem ra ông Trump rất kiên trì với chiêu thuế quan; thua keo này bày keo khác, không nản chí. Nhưng trong sự kiên trì đó có những điều cần được bàn luận.

Ai cũng biết tác dụng đầu tiên của thuế quan là bảo vệ sản xuất trong nước khỏi bị sự cạnh tranh của hàng hóa tương tự từ nước ngoài. Nhưng các công ty, các ngành được bảo hộ sau hàng rào thuế quan có thể trở nên trì trệ, mất sức sáng tạo và đổi mới, cuối cùng trở thành gánh nặng. Vì thế, dùng thuế quan để bảo hộ chỉ là biện pháp tạm thời, “câu giờ” cho các công ty trong nước củng cố nội lực; nó cần được bãi bỏ khi các ngành được bảo hộ trong nước đã đủ mạnh để tự đương đầu với hàng nhập cảng.

Công dụng thứ hai của thuế quan là trừng phạt những đối tác làm ăn không trung thực, thao túng tỷ giá hoặc trợ cấp bất hợp pháp, cạnh tranh không công bằng. Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) cho phép áp dụng các mức thuế trừng phạt như thuế chống bán phá giá (anti-dumping) khi phát hiện hàng hóa nhập cảng bị bán dưới giá thành sản xuất nhằm tạo lợi thế cho nhà sản xuất nước ngoài, thuế chống trợ cấp (anti-subsidizing) để tạo sân chơi công bằng giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp được nhà nước tài trợ như các công ty Trung Quốc.

Có điều, thuế quan dùng như biện pháp bảo hộ thị trường hoặc trừng phạt chỉ có tác dụng khi nhắm mục tiêu cụ thể vào một công ty, một nhóm công ty hoặc một ngành công nghiệp nhất định. Nếu thuế quan kéo dài, áp dụng tràn lan cho cả nền kinh tế hoặc nhiều nền kinh tế cùng lúc như hiện nay thì nó không còn tác dụng nữa.

Và cũng nên chú ý, thuế quan (tariff) cũng là thuế (tax) mà người tiêu dùng cuối phải nộp. Nhà nhập cảng hàng hóa đóng tariff cho chính phủ; sau đó công ty nhập cảng sẽ tính thuế vào giá bán mà người mua phải chịu. Các mức thuế quan mà chính quyền Trump đặt ra từ năm ngoái đến nay cuối cùng cũng tính vào hóa đơn mua hàng của người Mỹ, không công ty ngoại quốc nào trả các khoản thuế này.

Thuế quan có đáng sợ?

Vậy tại sao các quốc gia lại bất bình và lo sợ khi bị chính quyền Trump đánh thuế? Đã có không ít đại diện chính phủ khắp nơi tìm cách nài nỉ ông Trump giảm thuế cho hàng hóa của nước họ. Tại sao vậy?

Nếu thuế quan được áp dụng có chọn lọc, nhắm vào một số công ty, một số mặt hàng nào đó thì các nước bị đánh thuế coi như bị phạt nặng và mất sức cạnh tranh so với các nước khác cũng xuất cảng mặt hàng tương tự. Ví dụ, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam đều xuất cảng gạo vào Mỹ, phẩm chất gạo và giá thành tương đương nhau; nếu Mỹ đánh tariff vào gạo Việt Nam cao hơn gạo Thái hay gạo Ấn thì kết cục, giá bán gạo Việt ở siêu thị sẽ cao hơn, ít người muốn mua hơn và dần dần Việt Nam sẽ mất thị trường gạo Mỹ vào tay người Thái và người Ấn. Không ai muốn nông dân nước mình phải chịu thiệt thòi. Còn nếu gạo Việt, gạo Ấn, gạo Thái đều bị tariff cao như nhau thì không có gì phải ngại nhiều.

Chính quyền cộng sản Việt Nam đang trấn an người dân rằng, mức thuế 12.5% mà Mỹ vừa áp lên hàng hóa Việt Nam theo Mục 301, là không có mấy ý nghĩa bởi vì các nước xuất cảng vào Mỹ các mặt hàng tương tự như Việt Nam cũng chịu mức thuế cao như vậy, chí ít cũng 10%, chênh lệch nếu có cũng không quá lớn để phải lo sợ.

Tác động đến cuộc sống người dân

Hôm Thứ Hai, 27 Tháng Bảy, Đại Diện Thương Mại Mỹ (USTR) Jamieson Greer nói trên đài Fox News rằng các mức thuế quan mới liên quan đến lao động cưỡng bức sẽ không gây tác động kinh tế, tức là không ảnh hưởng tới cuộc sống của người Mỹ. “Tôi không nghĩ rằng nó gây ra bất kỳ tác động nào,” ông Greer nói và giải thích mức thuế mới chỉ áp dụng cho một số quốc gia, thay vì cho toàn thế giới như các sắc thuế trước đây. Ông Greer cho biết thêm USTR sẽ tiếp tục đặt ra các mức thuế quan mới, cũng theo Mục 301 đạo Luật Thương Mại 1974, nhắm vào 16 đối tác thương mại mà Mỹ cho rằng đang có công suất công nghiệp dư thừa, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Mexico và Liên Âu.

Đó là cách nói của người phụ trách chính sách ngoại thương của chính phủ. Các số liệu kinh tế lại cho thấy một bức tranh khác: trước khi ông Trump ra đòn tariff, mức tariff bình quân của Mỹ là 2.2%-2.6%, nghĩa là món hàng nhập cảng có giá $1000 chỉ chịu thêm khoảng $25 thuế; sau khi ông Trump ra đòn, mức thuế bình quân này tăng lên 14%-17% do phải chịu thuế tương hỗ, và hiện còn 11%-13%; giá một cái tủ lạnh $1000 sẽ phải chịu thêm $170 thuế!

Các mức thuế này rốt cuộc đều đổ vào hóa đơn của người tiêu dùng, góp phần đẩy chỉ số lạm phát lên mức cao nhất năm năm qua và làm cho niềm tin của người Mỹ vào nền kinh tế sụt giảm. Cuộc chiến ở Iran, eo biển Hormuz bị phong tỏa, đẩy giá xăng dầu vượt mức $4.5/gallon đã khiến người tiêu dùng mất ăn mất ngủ, nay lại thêm các biện pháp thuế quan làm cho tình hình lạm phát thêm tồi tệ. Lạm phát từ mức 2.9% ngày ông Trump nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai, đã tăng lên 3.5% trong Tháng Sáu vừa qua.

Tổ chức Conference Board chuyên đánh giá cảm nhận của người Mỹ cho biết chỉ số niềm tin người tiêu dùng đã giảm xuống mức 90.8 điểm trong Tháng Bảy, từ mức 92.2 điểm của Tháng Sáu, rất thấp so với mức 112 điểm ngày chuyển giao quyền lực từ ông Biden sang ông Trump.

Chỉ còn ba tháng nữa người Mỹ sẽ đi bỏ phiếu và tâm lý tiêu cực về nền kinh tế có thể gây rủi ro cho Tổng Thống Trump và đảng Cộng Hòa! [kn]

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT