Vũ Ánh
Dù đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông David Shear, hôm Thứ Ba có khẳng định rằng, “nếu Việt Nam không có tiến bộ về dân chủ và nhân quyền sẽ rất khó được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn cho gia nhập TPP,” cho tới nay cũng khó đoán vấn đề này sẽ kết thúc theo chiều hướng nào. TPP là chữ viết tắt của nhóm từ Anh ngữ “Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement” có thể tạm dịch là “Hiệp Ðịnh Hợp Tác Kinh Tế Chiến Lược Xuyên Thái Bình Dương.”
Ðây là một hiệp định hoặc thỏa ước thương mại tự do với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Thỏa thuận ban đầu được các nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ký vào ngày 3 Tháng Sáu, 2005 và có hiệu lực ngày 28 Tháng Năm, 2006. Hiện tại, có thêm 5 nước đang đàm phán để gia nhập, đó là Úc, Malaysia, Peru, Hoa Kỳ, và Việt Nam. Ngày 14 Tháng Mười Một, 2010, ngày cuối cùng của Hội Nghị Thượng Ðỉnh APEC tại Nhật, lãnh đạo của 9 nước (8 nước trên và Nhật) đã tán thành lời đề nghị của Tổng Thống Obama về việc thiết lập mục tiêu của các cuộc đàm phán thuộc Hội Nghị Thượng Ðỉnh APEC năm 2011 diễn ra tại tiểu bang Hawaii Hoa Kỳ.
Trước đây, TPP được biết đến với tên tiếng Anh là “Pacific Three Closer Economic Partnership” (P3-CEP) và được Tổng Thống Chile Ricardo Lagos, Thủ Tướng Singapore Goh Chok Tong và Thủ Tướng New Zealand Helen Clark đưa ra thảo luận tại một cuộc họp các nhà lãnh đạo của APEC diễn ra tại Los Cabos, Mexico. Brunei nhanh chóng tham gia đàm phán ở vòng 5 vào Tháng Tư, 2005. Sau vòng đàm phán này, hiệp định lấy tên là Pacific-4 (P4). Mục tiêu ban đầu của hiệp định là giảm 90% các loại thuế xuất nhập cảng giữa các nước thành viên trước ngày 1 Tháng Giêng, 2006 và cắt giảm tới số không vào năm 2015. Ðây là một thỏa thuận toàn diện và bao quát tất cả các khía cạnh chính của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm trao đổi hàng hóa, các quy định về xuất xứ, can thiệp, rào cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của chính quyền.
Nhìn khái quát thì thuế xuất nhập cảng có lẽ là hình ảnh hấp dẫn nhất đối với các quốc gia cần bán được hàng dễ dàng, kiếm được lợi nhuận cao nhưng ngược lại họ cũng sẽ bị trả giá khá đắt nếu có thói quen trợ giá hàng của mình hoặc dùng những nguyên liệu chế tạo nhập cảng từ Trung Quốc. Mặc dù Việt Nam cũng hay bị rắc rối và bị đặt những dấu hỏi lớn về việc trợ giá các hàng hải sản, nhưng vào ngày 13 Tháng Mười Một năm 2011 cũng đã tuyên bố tham gia vào TPP. Các quốc gia tuyên bố gia nhập là một chuyện nhưng vượt qua được những vòng đàm phán rất phức tạp cũng đòi hỏi một thời gian không phải là chóng vánh.
Một số các nhà phân tích và quan sát tại Hội Nghị Thượng Ðỉnh ở Hawaii vào năm 2011 đã đặt câu hỏi này cho Tổng Thống Obama bên lề hội nghị như sau: “…Ðã có Hiệp Ðịnh Mậu Dịch Tự Do FTA rồi, sao lại cần TPP…”
Trong một câu trả lời không đi thẳng vào vấn đề, nhưng rõ ràng Tổng Thống Obama không che giấu mục tiêu của Hoa Kỳ qua vấn đề mở cửa thị trường các đối tác được đặc biệt nhấn mạnh tới. Ông nói rằng các bên tham gia trong đó có Hoa Kỳ sẽ phải đưa ra những cam kết mạnh hơn nhiều so với những cam kết ở WTO hay FTA. Tổng Thống Obama không nói rõ “cam kết mạnh hơn” là như thế nào, nhưng dư luận luận đoán rằng quốc gia có nền kinh tế hàng đầu như Hoa Kỳ sẽ phải có vai trò lớn trong việc nhận thêm những thành viên của TPP. Cho nên dù có giải thích từ ngữ “hợp tác/đối tác” theo cách nào đi nữa, rõ ràng TPP trước sau cũng sẽ trở thành một cánh tay kinh tế khác trong đó Washington trở thành đầu tầu trong cỗ xe ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc đang nỗ lực với tay xuống tận vùng cực Nam của Biển Ðông.
Một trong những “cam kết mạnh hơn” còn là vấn đề nhân quyền và mức độ dân chủ tại các quốc gia muốn gia nhập TPP, một vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm. Ngay cả Malaysia là một trong 5 quốc gia xin gia nhập cũng có những vấn đề liên quan đến dân chủ và nhân quyền cần phải giải quyết. Phe đối lập tại quốc gia này đang rầm rộ biểu tình phản đối kết quả cuộc bầu cử mới đây và bộc lộ sự chia rẽ sắc tộc sâu sắc có ảnh hưởng đến nội tình chính trị của Kuala Lumpur. Và ngay cả Hoa Kỳ, một đất nước tưởng như không bao giờ đàn áp về nhân quyền, nhưng những thông tin mới nhất về vụ tuyệt thực của hơn 100 tù nhân bị gán cho tội “khủng bố” và bị giam tại Guantanamo hơn 10 năm nay mà không được xét xử trước tòa án đang làm cho Hoa Kỳ bị mất mặt. Riêng Việt Nam thì hồ sơ vi phạm nhân quyền đã quá dầy rồi và vụ mới nhất đang gây sôi nổi là vụ “Dã ngoại nhân quyền” đã được thông tin rất đầy đủ.
Như vậy, trên nguyên tắc, những quốc gia vừa kể có thể gặp trở ngại ngay cả trong vòng đàm phán thứ 16 sắp tới sẽ diễn ra ở Peru chứ không phải chỉ riêng có Việt Nam. Trong những vòng đàm phán như vậy, do quốc gia nào cũng có “tật” cả cho nên các chuyên viên không dại gì lại nêu vấn đề này ra đối với các nước muốn xin gia nhập. Mục tiêu của đàm phán trong một hiệp ước thương mại chỉ chú trọng đến những thương lượng về việc giảm tối đa hàng rào thuế quan, những rào cản cho việc trao đổi mậu dịch, trợ giá, tiêu chuẩn hàng hóa và những vấn đề phức tạp khác trong đó có vấn đề những điều kiện gia nhập TPP cần phải sửa đổi hay thêm thắt vào.
Ngay từ lúc Hoa Kỳ quyết định gia nhập TPP, người ta đã thấy ngay hàm ý của Washington muốn TPP trở thành một cánh tay chống lại ảnh hưởng của Bắc Kinh. Vì thế dư luận có thể thấy việc có nhiều quốc gia tham dự vào TPP thì cánh tay này sẽ mạnh hơn. Do đó Hoa Kỳ có mục tiêu chính trị của Hoa Kỳ và các quốc gia tham dự vào TPP cần cái lợi từ TPP để phát triển và thu hút đầu tư. Ðối với các quốc gia khác thì mối liên lạc với họ ít có vấn đề hơn, nhưng mối liên hệ với Việt Nam, một nước mà vấn đề nhân quyền tháng năm nào cũng nảy sinh những chuyện mới được nhắc nhở tới có thể là một nguyên nhân dẫn tới trở ngại khi Washington phải đưa việc kết ước với TPP ra để được Quốc Hội phê chuẩn.
Hành pháp Hoa Kỳ đã tính toán rằng những nhóm đặc quyền ở Washington có đại diện tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Vì thế có thể họ sẽ lấy cớ hồ sơ nhân quyền Việt Nam còn gây ảnh hưởng xấu trong mối liên hệ Việt Mỹ nên không phê chuẩn Hiệp Ước TPP. Cho nên lời khuyến cáo Việt Nam phải cải thiện nhân quyền nếu không chính hành pháp Mỹ cũng bị vạ lây vì Việt Nam cũng xin gia nhập TPP của Ðại Sứ David Shear là điều có thể hiểu được. Nhưng người ta có cảm tưởng rằng lời khuyến cáo này của ông Shear rất yếu ớt, lấy lệ.
Trong quá khứ, người ta đã chứng kiến hiện tượng hành pháp của Tổng Thống George W. Bush đã bật đèn xanh để Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC nhằm giúp Việt Nam có thể gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO), trong khi hồ sơ nhân quyền và vi phạm tự do tín ngưỡng vẫn còn là chủ đề đáng chú ý trong những phúc trình của Bộ Ngoại Giao trước đó. Một số những nhà phân tích cho rằng đây là một món quà mà Hoa Kỳ tặng cho Hà Nội để lôi kéo Việt Nam vào quĩ đạo xoay trục ở Châu Á-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, một quĩ đạo mà Hoa Kỳ tin rằng sẽ giúp họ chống lại chính sách bành trướng của Hoa Lục mà không làm ảnh hưởng nhiều đến việc buôn bán với Bắc Kinh. Cho nên, qua sự kiện này, người ta có thể thấy chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ vẫn là dựa trên quyền lợi của một nước vẫn còn đang dẫn đầu thế giới tự do, có nghĩa là khi Mỹ cần bảo hồ sơ này hay hồ sơ nọ của một quốc gia nhỏ hơn là đen hay trắng thì họ vẫn làm, không nhất thiết phải so sánh với những gì đang diễn ra ở đất nước ấy. Những nhóm từ “đã dần dần được cải thiện,” “đã có chiều hướng tốt,” “đã cải thiện tích cực được một phần”… thực ra chẳng có ý nghĩa gì cả và chẳng có cái mốc cụ thể nào để so sánh nhưng vẫn là thứ ngôn ngữ mà những nhà chính trị hay ngoại giao Hoa Kỳ thường sử dụng để bật đèn xanh cho vấn đề nhân quyền hay dân chủ ở những quốc gia khác.
Và có lẽ cũng chính như vậy mà Hà Nội vẫn rất “thong dong” trong việc đè bẹp quyền con người ở Việt Nam và khi Hoa Kỳ muốn can thiệp cho một tù nhân chính trị nào ở Việt Nam vẫn phải thương lượng từng vụ sau hậu trường. Ðiều dễ thấy nhất là ảnh hưởng của Hoa Kỳ trong sự kiện Hà Nội thả Luật Sư Lê Công Ðịnh và Tiến Sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhưng ảnh hưởng đó vẫn chỉ là đơn lẻ và có thể đã được thương lượng sau những cánh cửa đóng kín. Không may là trên thực tế, đây là cách làm có hiệu quả của Mỹ ở những nước độc tài. Và đáng buồn thay, chính sách này lại được một số nhà hoạt động cho nhân quyền Việt Nam ở Mỹ coi là thế mạnh của Hoa Kỳ và luôn luôn trông đợi Washington ra tay can thiệp cho “người của mình” bị nhà cầm quyền bắt giữ tại Việt Nam.
Cho nên câu hỏi được đặt ra “Liệu Hoa Kỳ có bỏ qua được hồ sơ nhân quyền tồi tệ” tại Việt Nam để dùng ảnh hưởng của mình bật đèn xanh giúp Hà Nội gia nhập TPP không sẽ chưa thể có câu trả lời dứt khoát vào lúc này. Nó sẽ tùy thuộc vào nhu cầu cần lôi kéo Việt Nam vào quĩ đạo chống Trung Quốc của Mỹ khẩn thiết tới mức nào và phản ứng của giới tư bản hàng đầu của Mỹ đang làm ăn buôn bán tại Trung Quốc ra sao. Tình hình cán cân lực lượng ở Hoa Ðông và Biển Ðông giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang có nhiều thay đổi ở mức gay cấn. Việc Việt Nam và các quốc gia Ðông Nam Á rơi hoàn toàn vào vòng ảnh hưởng không thể cưỡng lại được của Trung Quốc sẽ đóng lại cánh cửa thong dong tự do của các thương thuyền và chiến hạm Hoa Kỳ trên hải lộ từ Hoa Ðông xuống tận Singapore để qua eo Malaca sang Ấn Ðộ Dương. Rõ ràng đây là điều Hoa Kỳ không bao giờ muốn và Hoa Kỳ có kinh nghiệm cũng như hiểu rất rõ tác dụng của việc dùng món quà “đi bước trước” nhằm lôi kéo những quốc gia để họ bước vào quĩ đạo của mình.










