Hùng Tâm/Người Việt
Một vấn đề toàn cầu với hậu quả bất lường
Trong tình trạng đình đọng kinh tế chung từ bốn năm năm trở lại, nạn thất nghiệp đã trở thành một vấn đề cho nhiều quốc gia trên thế giới. Nhưng nhìn ra một khoảng thời gian rộng lớn hơn, trước đó và sau này, nạn thất nghiệp trong lớp người trẻ, từ khoảng 15 đến 24 tuổi, mới là bài toán nan giải với nhiều hậu quả khó lường. “Hồ Sơ Người Việt” sẽ tìm hiểu về chuyện đó.
Từ mùa Xuân Á Rập
Ba năm sau biến động chính trị tại khu vực Bắc Phi Trung Ðông (MENA, Middle East North Africa) mà người ta gọi là “Mùa Xuân Á Rập” hay “Cách Mạng Hoa Nhài,” ít ai còn nói đến trào lưu dân chủ trong thế giới Á Rập Hồi Giáo. Các chế độ độc tài đều rung chuyển, hoặc bị lật đổ như tại Tunisia, Egypt hay Libya, nhưng nền dân chủ như ta thường nghĩ theo mô hình Âu-Mỹ vẫn chưa bắt rễ.
Các quốc gia đều rơi vào sự chọn lựa bất toàn và thiếu lành mạnh là 1) tìm sự “ổn định” của một chế độ quân phiệt theo thế quyền, hoặc 2) “kỷ cương” của một chế độ thần quyền hà khắc theo cách suy diễn cực đoan của đạo Hồi. Giải pháp thứ ba là một thế chế dân chủ đa nguyên, theo tôn chỉ tam quyền phân lập, là trường hợp hãn hữu.
Trường hợp phổ biến hơn chính là tình trạng hỗn loạn của một chế độ cố gắng duy trì quyền lực, nhiều khi bằng bạo lực, trước sự nổi loạn của nhiều nhóm võ trang theo xu hướng trái ngược mà có chung một mẫu số. Ðó là các tay súng rất trẻ. Khi ấy, người ta mới nhớ ra một sự thể là các nước Á Rập Hồi Giáo đều gặp một vấn đề chung là nạn thất nghiệp của tuổi thanh niên (xin tạm lấy quy ước 15-24 tuổi).
Nói chung, xã hội và kinh tế có thay đổi khiến tuổi trẻ hiểu biết nhiều hơn và liên lạc với nhau nhiều hơn bằng phương tiện thông tin mới, nhưng một phần tư (25%) của lớp người này lại không có việc làm ổn định, bị thất nghiệp toàn thời hoặc bán thời. Không hài lòng với hiện tại và thấy tương lai mờ mịt, họ xuống đường biểu tình và nếu bị đàn áp thì dễ tìm ra giải pháp cực đoan quá khích, như liệng bom và đốt nhà. Có khi gia nhập các nhóm võ trang và trở thành “lực lượng nổi dậy,” “phiến quân” hay “cách mạng” trong cảnh nội chiến.
Tình trạng thanh niên thất nghiệp và xã hội bất ổn vẫn còn, tại Egypt đã đổi chủ, tại thùng thuốc súng Syria đẫm máu, hay tại xứ Iran với cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 14 tháng tới.
Ðến mùa Ðông Âu Châu
Khái niệm dân chủ như ta hiểu ngày nay xuất hiện từ khu vực Âu Châu, cũng là nơi đã gây ra nhiều vấn đề cho thế giới trong thế kỷ 19 và gây ra hai trận đại chiến trong thế kỷ 20.
Tình trạng chiến tranh trong nội bộ Âu Châu rồi lan rộng ra thế giới khiến các nước Âu Châu phải tìm ra giải pháp hợp tác về kinh tế rồi chính trị để xây dựng một hệ thống khác dựa trên nền móng dân chủ trong tinh thần hiếu hòa.
Kết quả là sự xuất hiện của Liên Hiệp Âu Châu gồm 27 quốc gia (từ đầu Tháng Bảy này sẽ có thêm xứ Croatia), bên trong có khối tiền tệ thống nhất của 17 nước dùng chung một đồng tiền là đồng Euro.
Nói chung, nạn thất nghiệp đã là vấn đề trường kỳ do chính sách bao cấp của Châu Âu, nhưng từ bốn năm nay, những mâu thuẫn và bế tắc trong khối Euro đã gây thêm vấn đề mới. Ðó là tình trạng suy trầm kinh tế khiến thất nghiệp không giảm mà còn tăng. Và trong số thất nghiệp này, giới trẻ bị nặng nhất.
Sự “phân bố” về địa dư của nạn thất nghiệp đã là một vấn đề cho Liên Hiệp Âu Châu.
Trong toàn cõi Âu Châu chỉ có bốn nước ở vùng trung tâm là có mức thất nghiệp dưới 6%, đó là Ðức, Áo, Hòa Lan (hay Hà Lan, Netherland) và Luxembourg. Ở vòng ngoại vi, nạn thất nghiệp hoành hành nặng hơn. Ðan Mạch và Anh quốc ở phía Bắc bị thất nghiệp từ 7.4% đến 7.7%, Pháp và Ba Lan còn tệ hơn thế với thất nghiệp trên 10%. Nhưng trầm trọng hơn cả là hoàn cảnh của bốn nước ở vòng ngoài, là Ý (11.7%), Lithuania (13.3%), Ireland (14.7%). Nguy ngập nhất là ba nước miền Nam: Portugal (Bồ Ðào Nha) bị 17.6%; Tây Ban Nha bị 26.2%; và Hy Lạp bị 27%.
Sự “phân bố” thất nghiệp này ảnh hưởng đến nhận thức và chủ trương của từng nước về mức độ nguy kịch của vấn đề: các quốc gia bị thất nghiệp cao ở vòng ngoài hay tại miền Nam đòi các nước kia góp phần chia sẻ gánh nặng tài chánh. Ðấy là một mâu thuẫn chính trị xuất phát từ thực tế kinh tế khiến Mùa Ðông Âu Châu sẽ còn kéo dài. Người dân tại các nước ở vòng ngoài không muốn tiếp tục chi tiền chuộc nợ hay cáng đáng gánh nặng cho các nước lâm nạn tại miền Nam.
Nhưng vấn đề không chỉ có tình trạng thất nghiệp khác biệt trên các vùng địa dư với hậu quả tai hại cho sự thống nhất chính sách ứng phó của các nước Âu Châu. Mối nguy lớn nhất nằm trong nạn thất nghiệp của tuổi trẻ, lớp tuổi chưa kịp sung mãn đã thấy tương lai ảm đạm vì không có việc làm.
Mùa Hè đỏ lửa của tuổi trẻ Âu Châu
Thanh niên trong các nước Á Rập Hồi Giáo có thể nói tiếng Anh hay không, nhưng vẫn có khả năng thông tin liên lạc qua máy điện thoại di động hay mạng lưới điện toán để biết về tương lai u ám của mình. Họ có chung hoàn cảnh của nhiều thanh niên Âu Châu.
Tỷ lệ thất nghiệp trung bình của cả khối Âu Châu hiện nay đã lên tới 11% (sau khi tổng hợp những khác biệt đã nói ở trên), tức là tăng khá mạnh so với mức trung bình trước cơn khủng hoảng là hơn 7%. Trong hoàn cảnh chung như vậy, lớp trẻ tại Âu Châu (vẫn lấy quy ước là 15 đến 24 tuổi) lại bị nặng nhất.
Do định nghĩa có khác biệt giữa cách tính của Âu Châu (qua cơ quan thống kê Eurostat) với Tổ chức Lao động Quốc tế ILO của Liên Hiệp Quốc, người ta có sự xê xích trong thống kê. Nhưng dù tính theo lối nào cũng vậy, sự thật là tuổi trẻ Âu Châu bị thất nghiệp nặng nhất trong các nước lâm nạn ở miền Nam, là Hy Lạp, Tây Ban Nha, và Bồ Ðào Nha, từ 40% đến 57%.
Nghĩa là phân nửa những người thuộc giới trẻ của các quốc gia này hiện đang thất nghiệp, dù muốn kiếm việc làm.
Một số thì có thể ghi danh đi học lại, được coi là sinh viên và sống nhờ gia đình. Nhưng chưa chắc là sau khi tốt nghiệp một trường cao đẳng kỹ thuật hoặc có thêm bằng cử nhân sau bốn năm học, họ đã tìm ra việc làm khi mà nạn thất nghiệp vẫn còn hoành hành trong cả xã hội từ bốn năm nay, chúng ta sẽ xét đến chuyện ấy sau để thấy rằng đa số còn lại thì chẳng đi học mà cũng chẳng đi làm.
Cho dù là về lý thuyết, các nước Âu Châu đã có chế độ tự do di trú, là quyền tự do di chuyển để tìm việc làm trong các quốc gia thành viên, không phải là ai ai cũng có thể bỏ nhà bỏ xứ đi tìm việc ở nơi khác. Vì tình trạng phân bố thất nghiệp có khác biệt, làn sóng “di dân” từ các nước lâm nạn đã gia tăng trong bốn năm qua và đe dọa thị trường lao động tương đối khả quan hơn tại khu vực trung tâm hay các nước phía Bắc. Phản ứng “kỳ thị di dân” khiến tuổi trẻ thất nghiệp bị đẩy vào thế kẹt và khó tìm ra lối thoát.
Thông thường, khi kinh tế sa sút làm người ta khó tìm ra việc thì lớp trẻ có thể về với mẹ cha và ghi danh đi học lại. Bài bình luận tuần qua của tác giả Nguyễn-Xuân Nghĩa trên cột mục “Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài” có nói đến hiện tượng này trong xã hội Hoa Kỳ, với những kết luận đáng ngại.
Tình trạng Âu Châu còn đáng ngại hơn vậy.
Các nước Âu Châu theo chế độ bao cấp đã có chung một chính sách: giáo dục cũng là một loại phúc lợi xã hội với học phí thấp (nếu so sánh với Hoa Kỳ) nên thời gian đi học của tuổi trẻ Âu Châu thường kéo dài lâu hơn và trở thành một gánh nặng phụ trội cho công quyền khi ngân sách đã bị bội chi quá lớn. Tuổi trẻ Âu Chây ghi tên đi học lâu hơn và tình hình kinh tế càng khó khăn thì thành phần được ghi danh là sinh viên càng tăng, với lớp tuổi cao hơn.
Nhưng dù có lấy thêm bằng này hay chứng chỉ nọ, họ vẫn không có hy vọng kiếm ra việc làm. Nếu một thế hệ được coi là “rường cột của nước nhà” lại lâm vào cảnh cùng quẫn như vậy thì Âu Châu sẽ đi về đâu?
Thất nghiệp là đời sống
“Hồ Sơ Người Việt” phải trở lại một vấn đề rắc rối vì hơi chuyên môn là khả năng tìm ra việc sau một giai đoạn thất nghiệp.
Không chỉ có giới trẻ Âu Châu, trong khối Hồi Giáo hay tại Hoa Kỳ mới gặp hiện tượng thất nghiệp. Nhưng bài toán phổ biến ấy mới khiến các chuyên gia kinh tế và xã hội tìm hiểu vấn đề và thấy ra một quy luật chung là càng bị thất nghiệp lâu thì càng khó kiếm ra việc làm.
Lớp tuổi trung niên đã có tay nghề và kinh nghiệm đều tìm cách giữ lấy việc làm dù có nhận một đồng lương thấp hơn khả năng. Các doanh nghiệp cũng thế, vì yêu cầu gia tăng năng suất, họ phải làm sao đạt cùng một sản lượng với số nhân công ít hơn. Họ có nhiều cách giảm bớt phí tổn cho lao động như lương bổng, bảo hiểm hay trợ cấp xã hội nên tìm nhân viên “ngoại ngạch” làm việc bán thời theo khế ước được tái tục mà không bị gánh nặng tài chánh của loại nhân viên toàn thời.
Kết quả là ai ai cũng cố giữ lấy việc làm và khó nhường chỗ cho thế hệ mới thành tài.
Trong khi đó, tầng lớp gọi là “mới thành tài” cũng tiếp tục gia tăng, mỗi năm lại có thêm người tốt nghiệp. Thành phần trẻ bị thất nghiệp ở giữa đã khó chiếm sân chơi của lớp người đi trước, lớn tuổi hơn, lại còn bị lớp người trẻ hơn lấn đất với những kiến thức mới, chưa được phổ biến vào dăm bảy năm trước.
Trong giai đoạn bình thường của sinh hoạt kinh tế, khi ra khỏi một chu kỳ suy trầm, thời gian thất nghiệp trung bình thường ở khoảng 20-23 tuần. Ngày nay, Hoa Kỳ đã ra khỏi nạn suy trầm (theo định nghĩa là từ Tháng Mười Hai năm 2007 đến Tháng Bảy 2009) nhưng thời gian thất nghiệp trung bình vẫn cao gấp đôi thời “bình thường”: 37 tuần. Ðấy là con số trung bình.
Nghĩa là thực tế thì nhiều người bị thất nghiệp lâu hơn và sau khi được trợ cấp thất nghiệp họ vẫn chưa kiếm ra việc. Nếu sống cả năm trong tình trạng thất nghiệp, nhiều người nản chí và không muốn kiếm việc nữa. Thuật ngữ kinh tế gọi là “không tham gia thị trường lao động.”
Hiện nay, đến 5% dân số ở tuổi lao động của nước Mỹ đã sống hẳn bên lề, ở ngoài thị trường lao động, hiện tượng ấy mới giải thích sự giảm sút của tỷ lệ thất nghiệp, một sự giảm sút giả tạo.
Trong số này, lớp người trẻ, đã tốt nghiệp cao đẳng hay đại học, chiếm một tỷ phần rất lớn. Họ có danh nghĩa “sinh viên,” sống với phụ huynh và có khi vay tiền đi học để khỏi đi làm. Với nhiều người, thất nghiệp trở thành hiện tượng bình thường, là đời sống bình thường.
Hiện tượng bất thường ấy không chỉ xảy ra tại Hoa Kỳ mà trở thành hoàn cảnh chung. Thí dụ như ở Tây Ban Nha, có đến 57% dân số trẻ đang sống trong cảnh thất nghiệp và không tìm ra lối thoát như đã trình bày ở trên. Họ sẽ làm gì với kiến thức đã có mà vẫn là vô dụng trong thực tế?
Hoa Kỳ là nơi mà người ta ý thức được vấn đề và tranh luận về các giải pháp cải tổ giáo dục hay đào tạo. Âu Châu thì từ chối công nhận là có vấn đề trong tình trạng thất nghiệp kinh niên của giới trẻ. Họ tranh luận về ngân sách, hay tình trạng nguy ngập của hệ thống ngân hàng hay đồng Euro. Khối Hồi Giáo còn tệ hơn vậy vì khung cảnh nội chiến thường trực. Người ta thả nổi một thế hệ đang bất mãn vì không có tương lai.
Kết luận ở đây là gì?
Cách nay 80 năm, cuộc Tổng Khủng Hoảng 1929-1933 đã gây chấn động kinh tế từ Hoa Kỳ sang Âu Châu và lan ra nhiều quốc gia khác. Khi ấy, nạn thất nghiệp quá cao và quá lâu đã là một vấn đề lớn. Thế Chiến II bùng nổ từ năm 1939 là một trong nhiều nguyên nhân của những bất ổn kinh tế toàn cầu, nhưng lại góp phần giải quyết bài toán thất nghiệp của giới trẻ: một thế hệ thanh niên đã tòng quân nhập ngũ trong bốn năm chinh chiến.
Âu Châu và Hoa Kỳ ngày nay không muốn và không thể lại lao vào một trận đại chiến. Tầng lớp thanh niên không thể lên đường cứu quốc trong một việc làm toàn thời là bảo vệ Tổ Quốc. Họ sẽ làm gì?
Trong các xã hội Hồi Giáo không có dân chủ và tinh thần chủ hòa như các nước Âu-Mỹ, giới trẻ thất nghiệp sẽ làm gì? Câu trả lời không có gì là lạc quan. Chúng ta còn nên bi quan vì những hậu quả bất lường của một tình trạng bất thường kéo dài quá lâu.

































































