Hùng Tâm/Người Việt
Nhân bầu cử tại Ðức, cùng nhìn lại tiến trình thống nhất Âu Châu
Tháng Chín này, nước Ðức có bầu cử Quốc Hội. Theo chế độ “đại nghị,” kết quả bầu cử sẽ quyết định về người lãnh đạo, về viên thủ tướng. Khi dân Ðức bỏ phiếu, nhiều phần thì họ sẽ nghĩ đến vị trí và gánh nặng của nước Ðức trong khuôn khổ Liên Hiệp Âu Châu (Liên Âu) của 28 quốc gia và trong khối Euro của 17 quốc gia. Ngược lại, người dân Âu Châu có thể nhìn vào nước Ðức để suy ngẫm về tiến trình thống nhất của cả khối Âu Châu trải qua nhiều thế kỷ.
Hồ sơ Người Việt trình bày hai khía cạnh đó để chúng ta thấy ra bối cảnh rộng lớn của vấn đề.
Thống nhất sau Chiến Tranh Lạnh
Sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã năm 1991, các nước Âu Châu gỡ được một gánh nặng đã chi phối mọi quyết định của họ trong mấy chục năm Chiến Tranh Lạnh: các nước Tây Âu hết còn bị mối đe dọa của 60 sư đoàn Hồng Quân Liên Xô nằm tại biên giới với Ðông Âu. Ðấy là cơ hội cho Âu Châu hội nhập vào một khối các nước Tây Âu với Ðông Âu, Bắc Âu, mà khỏi nhờ cậy vào sự bảo vệ của Hoa Kỳ.
Từ tâm trạng lạc quan của sự “giải phóng” khỏi hai sức ép Ðông-Tây, Liên Xô và Hoa Kỳ, năm 1992, các nước Âu Châu xúc tiến việc hội nhập cả một cộng đồng tự do ngoại thương (mậu dịch) vào một khối thống nhất. Khi ấy, chữ “thống nhất” mới chỉ có nội dung liên hiệp (union), chưa hẳn là thống nhất chính trị (united) như người ta đã thấy tại Hoa Kỳ. Ðấy là sự khác biệt giữa một thể chế “bang liên” (confederation) với thể chế “liên bang” như của Mỹ (federation).
Trong số này, nhiều nước còn lạc quan hơn.
Từ một khu vực tự do buôn bán với tối thiểu trở ngại, họ đồng ý từ bỏ đồng bạc quốc gia để dùng chung một đơn vị giao hoán dưới sự quyết định về chính sách tiền tệ và tín dụng của một định chế độc lập và biệt lập ở xa là Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu (European Central Bank, ECB).
Chúng ta nên nhìn lại chuyện này cho rõ: đồng bạc chung là đồng Euro được phát hành nơi đây (thí dụ như tại Ðức), mà được sử dụng nơi đó (thí dụ như tại Hy Lạp hay Bồ Ðào Nha), với quyết định về trị giá không còn thuộc về chính quyền hay ngân hàng trung ương của từng nước. Thời kinh tế thịnh đạt thì đồng Euro trong túi người Hy Lạp có sức nặng ngang bằng với đồng Euro trong túi người Ðức, dù rằng kinh tế của hai nước có thực lực khác nhau.
Chuyện thứ hai của khối thịnh vượng chung và mậu dịch tự do này là sau khi thống nhất về tiền tệ, các nước lại để ngỏ mà không quyết định về những bước kế tiếp, là thống nhất về chánh sách tài chánh công quyền (ngân sách và thuế khóa).
Nghĩa là dù có dùng chung một đơn vị tiền tệ, từng nước vẫn giữ chủ quyền về kinh tế, ngân sách, về công chi thu. Các nước vẫn chưa có lộ trình tiến tới thống nhất về chính trị.
Nói tóm lại, trong một thể chế hội nhập có giới hạn là bang liên giữa mấy chục quốc gia, có 17 nước đã hội nhập về tiền tệ, tức là tiến thêm một bước, mà vẫn chưa hội nhập về chính sách kinh tế để áp dụng chung một kỷ luật về chi thu.
Nhờ vậy, khi kinh tế sung mãn thì giàu nghèo gì cũng đều vui. Mà vì vậy, khi kinh tế suy thoái, các nước nghèo lại chết kẹt. Họ không thể vượt quyền ngân hàng ECB để phá giá đồng bạc hầu tránh khỏi nạn suy sụp kinh tế. Mà cơ chế Liên Âu rộng lớn, hoặc ngân hàng ECB có thẩm quyền thu hẹp hơn, cũng chẳng thể định ra một chiến lược chung, mạch lạc thuần nhất và có khả năng cưỡng hành, để đẩy lui những khó khăn kinh tế. Lý do là các định chế này không thể kiểm soát ngân sách hay có uy quyền chính trị để bắt các thành viên cùng tôn trọng.
Sự dàn xếp nửa vời đó là lý do chính của tình trạng tê liệt của cả hệ thống. Nhưng vận động hay cả sự trách móc lẫn nhau chỉ là lý cớ chính trị của lãnh đạo từng nước trình bày cho những người chủ thật sự là cử tri ở nhà.
Muốn ra khỏi tình trạng tê liệt đó, các nước chỉ có một giải pháp là tiến tới thống nhất chính trị.
Nói cho cụ thể, rõ ràng và phũ phàng là phải thủ tiêu chính quyền quốc gia, bị giáng cấp thành chính quyền “tiểu bang,” dưới sự quyết định của một chính quyền “liên bang” có tư thế và trách nhiệm về tiền tệ, thuế khóa, ngân sách, ngoại giao và quân sự, v.v… Khi ấy, một chính quyền mạnh như của Ðức (hãy liên tưởng đến Texas, California hay New York) cũng chỉ có quyền hạn bằng một chính quyền Hy Lạp, hay Hung, Tiệp (hãy liên tưởng đến Main hay Arkansas…)
Ðặt vấn đề như vậy, chúng ta mới liên tưởng đến tiến trình thống nhất thật ra còn quá mới của nước Ðức trong một chuỗi chiến tranh và xung đột kéo dài nhiều thế kỷ giữa các nước Âu Châu.
Liên tưởng về quá khứ
Quốc gia nào cũng chỉ thành hình sau khi quy tụ và hội nhập nhiều cộng đồng khác biệt thành một tập thể thống nhất, cùng chia sẻ một số giá trị. Tiến trình quy tụ và hội nhập đó không đương nhiên là dễ dàng, trong hòa bình. Thế kỷ 19 đã chứng kiến nỗ lực thống nhất để hình thành nước Ý, là trường hợp tương đối dễ dãi nhẹ nhàng, và nước Ðức, là tình trạng khó khăn gấp bội.
Nước Ðức hoàn thành việc đó một cách hoàn hảo nhất – dù không là thanh bình nhất cho các xứ khác.
Từ vài trăm tiểu vương quốc trong đế quốc rộng lớn có tên là Holy Roman Empire từ năm 962 đến 1806 (mà ta có thể tạm dịch là Thánh Ðế La Mã) bao trùm lên nhiều quốc gia Ðông Âu, Trung Âu và Bắc Âu hiện nay, nước Ðức đã thành hình nhờ… Ðế quốc Pháp của Napoléon.
Sau cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, các vương triều lớn nhỏ của Âu Châu đều bị chấn động và không đương cự nổi đoàn quân “cách mạng” của Napoléon. Nhưng cách mạng dân chủ Pháp lại biến chất và dẫn tới một đế quốc hung bạo đã tung hoành khắp Âu Châu, cho tới khi vấp ngã trên lãnh thổ Nga và bị Ðế quốc Anh đánh quỵ, sau 22 năm và sáu đợt liên kết của các nước Âu Châu.
Chính là Cách Mạng Pháp và Ðế chế Napoléon mới gây chấn động tâm lý và lay tỉnh ý thức hợp quần các tiểu vương quốc hay lãnh chúa lẻ tẻ thành một tập thể lớn hơn để tiến tới một quốc gia thống nhất là nước Ðức. Từ 200 gom lại thành 40 và tiến tới một nước nhờ Otto von Bismarck, Ðức quốc thành hình trong chiến trận và sự củng cố của ý thức quốc gia trước mối nguy của Pháp. Các yếu tố khác, như cách mạng khoa học kỹ thuật xuất phát từ nước Anh, hay sự hội nhập kinh tế vào một cộng đồng rộng lớn, không thể giải thích được sự thống nhất của nước Ðức.
Từ ý thức quốc gia và nhu cầu thống nhất chính trị để bảo vệ an ninh, các thành tố là những vương quốc nhỏ mới tiến dần đến việc lập ra chế độ quan thuế chung vào năm 1834 rồi mạng lưới hỏa xa thành hình năm 1840 mới thống nhất luồng giao lưu hàng hóa trong một khu vực rộng mở. Nhưng việc thống nhất về quan thuế, ngân sách hay kinh tế giữa các nhóm nhỏ vào một khối luôn luôn đi sau sự thống nhất về thẩm quyền chính trị.
Nước Ðức đã thành hình như vậy vào thế kỷ 19, theo một quy trình trái ngược với Âu Châu trong thế kỷ 20.
Sau Thế Chiến II, hai quốc gia rường cột của Âu Châu là Pháp và Ðức đã đề xướng việc hợp tác kinh tế như một giải pháp tránh xung đột chính trị đã xảy ra ba lần giữa hai nước (1871, 1914 và 1939). Cộng Ðồng Than-Thép hay Thị Trường Chung Âu Châu là những động lực kinh tế nhắm vào mục tiêu hòa giải và thịnh vượng để tiến tới hội nhập.
Nhưng các nước lại dừng chân trước ngưỡng cửa hội nhập chính trị. Mâu thuẫn của Âu Châu là một biểu hiện khác của sai lầm Mác-xít: kinh tế không quyết định tất cả!
Tâm tư Ðức-Phổ
Xin hãy nhắc lại sự biến chất, suy đồi, của cuộc Cách Mạng Pháp:
“Lý tưởng dân chủ khiến người ta chặt đầu ông vua rồi lôi máy chém ra đường trong thời khủng bố của Robespierre, Saint Just hay Marat, để cuối cùng tôn vinh một hoàng đế đã gieo tai họa cho cả Âu Châu. Và làm nước Pháp kiệt quệ. Trong mối họa đó, nước Ðức đã thành hình từ nước Phổ. Xin tạm gọi là “như một phản ứng tự vệ từ bên trong.”
Nhưng cũng chính phản ứng đó lại biến chất. Sức mạnh kinh tế Ðức-Phổ xuất phát từ một yêu cầu về an ninh trước sự bành trướng của các đế quốc Pháp, Nga, Hung Áo. Quá tích cực về an ninh và theo lối lấy công làm thủ, nước Ðức mở rộng vùng ảnh hưởng trái độn và trở thành một quốc gia hiếu chiến cho đến khi bị đánh bại. Nhìn theo một khía cạnh nào đó thì Ðế quốc Nga cũng có sự dại dột tương tự với giải pháp đế quốc của Liên Bang Xô Viết, cho tới khi sụp đổ vào năm 1991.
Kế thừa kinh nghiệm sắt máu của lịch sử, Cộng Hòa Liên Bang Ðức ngày nay có phản ứng hoàn toàn trái ngược.
An ninh là phụ vì hết còn mối đe dọa từ bên ngoài. Việc hội nhập chính trị thành một khối thống nhất cũng hết là một ưu tiên. Các quốc gia khác còn có thể lo sợ một nước Ðức hùng mạnh và hung hăng, chứ dân Ðức không muốn chiến tranh và cũng chẳng mơ ước lãnh đạo Âu Châu nữa. Họ nghĩ đến quyền lợi thiết thực: mối lợi riêng trong khối tiền tệ thống nhất.
Mâu thuẫn của Âu Châu vào thế kỷ 21 kết tụ vào mâu thuẫn của nước Ðức.
Quốc gia này có lợi trong khối Euro (nhờ xuất cảng) và phải cưu mang các nước khác vì mối lợi đó. Nhưng Liên Âu chỉ có tương lai và khối Euro chỉ ra khỏi khủng hoảng khi thống nhất được chính sách kinh tế tài chánh, nghĩa là tiến tới thống nhất chính trị. Quốc gia có thẩm quyền kêu gọi chuyện đó chính là nước Ðức, và Thủ Tướng Angela Merkel đã nhiều lần gợi ý như vậy. Nhưng bà không thể trình bày sự thể như một đòi hỏi.
Khác với Otto von Bismarck, bà Angela Merkel không thể nói đến chuyện sắt máu mà nước Ðức đã trải nghiệm trong tiến trình thống nhất và các nước khác đã hứng chịu trong hơn một thế kỷ.
Kết luận ở đây là gì?
Âu Châu khó có tương lai nào khác hơn là thống nhất chính trị. Nước Ðức hiểu như vậy nhưng không muốn lại trả giá cho việc thống nhất đó.
Các nước Âu Châu theo dõi cuộc bầu cử Tháng Chín tại Ðức đều mong là cử tri Ðức sẽ cho bà Merkel nhiều quyền hạn hơn để gánh vác bài toán Euro, nhưng lại sợ một nước Ðức bá chủ.
Hai vòng mâu thuẫn này, của Âu Châu và nước Ðức, là mớ bòng bong khó gỡ.


































































