Biên bản hữu thệ của FBI (tiếp theo)

 


LTSDưới đây là biên bản hữu thệ do FBI cung cấp cho nhật báo Người Việt liên quan đến vụ một doanh gia gốc Việt cho một người gốc Việt khác vay tiền, rồi dùng một cảnh sát viên gốc Việt ở Westminster đi đòi nợ. Nội dung biên bản nói rằng doanh gia và cảnh sát viên này dùng các hình thức hăm dọa và sách nhiễu công việc kinh doanh của con nợ. Nhật báo Người Việt đăng lại nguyên văn biên bản này. Bài được đăng làm nhiều kỳ.


***


8. Vào ngày 6 Tháng Năm 2013, chính phủ xin được trát tòa cho phép nghe và xem các liên lạc qua đường dây và điện tử của máy điện thoại do DO sử dụng. Các cú điện thoại và text message đọc được cho thấy: DO tiếp tục tìm cách đòi lại tiền từ H.L.; và có thể một số nạn nhân khác của DO. Những gì thu thập được cho thấy DO dùng các nhân viên công lực địa phương, kể cả DONNER, để hăm dọa đòi H.L. trả tiền.

9. Vào khoảng ngày 2 Tháng Bảy 2013, FBI thẩm vấn H.L. H.L. xác nhận có nợ DO một số tiền lớn và mức lời DO đưa ra. (note #2) H.L. khai rằng DO nói với H.L. là anh ta cũng như một nhân viên công lực và anh ta có mối quan hệ với giới chức công lực cũng như các cơ quan thanh tra để có thể gây cản trở cho việc làm ăn của H.L. nếu H.L. không chịu trả tiền lời đúng kỳ hạn. H.L. cũng nói rằng DONNER, cũng như các nhân viên công lực khác, đã gây cản trở cho việc làm ăn của bà, kể cả chiếu đèn xe tuần tiễu vào quán của bà, chặn xe của nhân viên sau giờ làm việc, và bước vào quán để dọa nạt khách hàng. Một cuộc duyệt xét dữ kiện ghi nhận vị trí của máy định vị trên các xe tuần tiễu của sở cảnh sát WPD cho thấy DONNER và một số cảnh sát viên khác có mặt ở cơ sở làm ăn của H.L. vào ngày giờ bà ta than phiền bị truy bức.

Note 2: Trong cuộc gặp đầu tiên với FBI, H.L. chối không trả mức lời hàng tháng là 5% cho DO, nhưng nói rằng bà ta “sợ DO” và không muốn có hành động chống lại DO (mess with). Trong cuộc thẩm vấn ít ngày sau đó với FBI, H.L. xác nhận các điều kiện mượn nợ, cách thức DO thu tiền lời từ H.L., cũng như sự sợ hãi nếu không trả được tiền cho DO.

10. Vào ngày 21 Tháng Tám 2013, FBI thẩm vấn DONNER về một số vấn đề, kể cả các hoạt động của anh ta với DO.

DONNER xác nhận anh có đi thu tiền của H.L. một số lần theo lời yêu cầu của DO, kể cả trong giờ làm việc và mặc sắc phục. DONNER cũng thú nhận rằng DO ra lệnh cho DONNER phải tìm ra các vi phạm luật lệ CUP của H.L. tại cơ sở thương mại của bà, và DONNER có viết các giấy phạt liên quan đến giấy phép CUP.


Probable Cause


11. Vào ngày 25 Tháng Mười Một 2012, FBI nghe được một số cuộc điện thoại và đọc được text messages qua điện thoại của H.L khi nói chuyện với DO và DONNER. Trong các lần điện thoại này, và trong những lần theo dõi sau đó, DO đòi H.L. phải trả số tiền còn thiếu và gửi DONNER tới để đòi tiền. (note 3).

a) Vào khoảng 2:38 chiều, DO gửi text message cho H.L. về số tiền bà ta còn thiếu. DO bày tỏ sự không hài lòng với H.L. nói rằng (bằng tiếng Việt) “Cô có tới hay không. Tôi chán những lời hứa hẹn của cô lắm rồi.” Sau đó trong bản text khác (bằng tiếng Anh) “Mình cần phải nói chuyện, (H.L.)” H.L. trả lời bằng text (bằng tiếng Việt), “Em nói sẽ đến tối nay, em sẽ tới lúc chừng 8 giờ tối.” Căn cứ vào cuộc điều tra cho tới nay, tôi tin rằng khi DO nói rằng ông ta đã “chán những lời hứa hẹn” của H.L. ông muốn nói rằng đã chán việc H.L. không trả tiền số tiền lời đúng hẹn.

Note 3: Khi tôi nói rằng một cú điện thoại hay text message được DO gửi ra hay nhận vào, thông tin này được gửi hay nhận từ một số điện thoại chấm dứt bằng 8888. Khi tôi nói rằng khi cú điện thoại hay text message được DONNER gửi đi hay nhận lại, thông tin này được gửi hay nhận ở số điện thoại chấm dứt bằng 5221, một số điện thoại của AT&T Wireless với người thuê là DONNER. Các cú điện thoại và các text message nghe hay đọc được là cả bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt. Khi tôi nói rằng một cú điện thoại nói bằng tiếng Việt và đưa ra bản dịch tiếng Anh, tôi nhờ vào các tin tức cung cấp cho tôi từ các nhà ngữ học thông thạo tiếng Việt của FBI. Khi tôi để một chữ giữa hai dấu ngoặc, tôi đưa ra điều tôi nghĩ là người nói muốn đề cập tới, căn cứ trên cuộc điều tra, những gì tôi được huấn luyện và kinh nghiệm của tôi. Các văn bản hoàn chỉnh ghi lại những gì phát biểu trong các cú điện thoại hay text messages này hiện chưa có, nhưng tôi tin rằng các bản dịch là chính xác, và tôi tin rằng bản dịch sau cùng về các cú điện thoại này sẽ không thay đổi về ý nghĩa. Các cuộc nói chuyện bằng tiếng Việt đề cập tới trong bản chứng nhận này cũng được một nhân viên đặc biệt FBI Trung Dang (“SA Dang”), một người có tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ, duyệt lại. Ông ta đồng ý rằng bản dịch của các cú điện thoại được đề cập tới trong bản chứng nhận này là chính xác về ý nghĩa.

b) Vào lúc 2 giờ 47 chiều, H.L. gọi DO và kêu anh ta bằng “Anh Hai.” Tôi biết sau khi nói chuyện với SA Dang, rằng từ ngữ này khi sử dụng trong văn hóa Việt Nam thường là để đề cập đến người có vai vế cao hơn, và cũng giống như từ ngữ “Big Brother” trong tiếng Anh. DO nói với H.L một cách lớn tiếng, vốn theo các kinh nghiệm và sự huấn luyện mà SA Dang có được thì có vẻ bực bội và giận dữ, nói rằng (bằng tiếng Việt), “Tôi không muốn phí thì giờ với cô. Tôi bận lắm và đó là lý do tại sao tôi gọi Anthony (DONNER) lo chuyện này cho tôi. Tôi rất bận.”

H.L. trả lời (bằng tiếng Việt) “khi nào anh rảnh để em ghé qua?” Dựa theo sự huấn luyện và kinh nghiệm của tôi, trong cú điện thoại này tôi tin rằng DO tìm cách sắp xếp giờ hẹn để DONNER tới nhận tiền thiếu từ H.L.

c) Vào lúc 4 giờ 08 chiều, DONNER gửi một text messag cho H.L., bằng tiếng Việt “[H.L.], chị có cái đó tối nay không?”
Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm mà tôi có được, tôi tin rằng text message của DONNER muốn hỏi rằng liệu H.L. có số tiền thiếu DO để DONNER đến lấy cho DO trong đêm đó hay không.

d) Vào lúc 4 giờ 16 chiều, H.L. trả lời cho DONNER bằng cách text lại (bằng tiếng Việt), “8 giờ tối, tiệm ok.” DONNER trả lời ít phút sau đó (bằng tiếng Việt) như sau “Ok [H.L.]”. Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm của tôi, tôi tin rằng DONNER đang xác nhận thời giờ và địa điểm gặp để nhận tiền cho DO từ H.L., vốn ở nhà hàng/quán rượu của H.L. ở Westminster.

e) Vào lúc 7 giờ 11 phút tối, H.L. gửi cho DONNER một text message hỏi (bằng tiếng Anh), “Chị sắp tới quán chưa?” DONNER replied, [”H.L”] come n pick it up.” Rồi sau đó gửi một message thứ nhì (bằng tiếng Anh), “20 phút.”

[Ðoạn này của Tòa Soạn: Ðoạn e. bên trên có vẻ không chính xác. Có thể, DONNER hỏi H.L. “Chị sắp tới quán chưa?” và sau đó H.L trả lời là “đến lấy đi.”]

f) Vào lúc 7 giờ 33 phút tối, H.L. gọi cho DONNER để xem như thế nào. DONNER trả lời (bằng tiếng Anh), “Hello. Hello… Bây giờ em đang ở nhà. Em sẽ đến đó [nhà hàng của H.L.] sau khi thay quần áo xong.” Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm mà tôi có được cũng như sau khi thẩm vấn H.L., tôi tin rằng H.L. và DONNER đang phối hợp giờ gặp tại cửa tiệm của H.L. để H.L. đưa cho DONNER số tiền lời trả cho DO.

g) Vào lúc 7 giờ 46 phút tối, các nhân viên an ninh theo dõi thấy H.L cùng với một người đàn ông Á Châu rời khỏi quán bằng xe hơi. (Note 4)

h) Vào lúc 7 giờ 48 phút tối, H.L. gửi cho DONNER một text message (bằng tiếng Anh), “Chị phải giao đồ ăn cho khách. be sẽ đưa tiền cho em, nửa bây giờ ok, nửa còn lại ngày mai ok.” Dựa trên sự huấn luyện và kinh nghiệm mà tôi có được tôi tin rằng H.L. nói với DONNER rằng sẽ đưa nửa số tiền thiếu vào tối đó và nửa còn lại vào ngày hôm sau.

Note 4: Lúc 7 giờ 46 phút tối, H.L. gọi cho một người nữ, sau đó H.L. cho biết là một nhân viên tại nhà hàng của H.L. Trong cuộc nói chuyện, H.L. nói với người nữ nhân viên, “khi nào Anthony đến, đưa cho nó tiền.” H.L. xác nhận cú điện thoại này là do cô gọi để nói người nhân viên đưa cho DONNER số tiền đã đồng ý.

(còn tiếp)

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT