Vũ Ánh
LTG – Hồi đầu năm cháu nội tôi, Catherine Vũ 11 tuổi hỏi bố nó: “Tại sao ông nội bị tù, có phải ông nội phạm tội hình sự không?” Con trai tôi cũng chỉ trả lời đại khái là sau khi Miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản, nhà cầm quyền mới đã bắt tất cả các cựu sĩ quan quân đội và cựu công chức từ cấp chỉ huy thấp nhất đến cao cấp nhất đẩy vào các trại cải tạo để trả thù. Năm nay con trai tôi đã ngoài 40, nhưng không thể nào giải thích chi tiết với con gái nó về những gì đã xảy ra cho ông nội và những người bạn tù khác của ông nội đằng sau những cánh cổng nhà tù ấy. Lúc tôi đi tù cải tạo, con trai tôi mới 6 tuổi và khi tôi trở về từ nhà tù thì nó đã là một thanh niên 19 tuổi và nằm trong danh sách những thanh niên không được đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học vì cái lý lịch của tôi. Ðó là lý do tại sao tôi viết loạt bài này. Tôi hy vọng đây là một lời giải thích, một nhắc nhở với thế hệ thứ hai và thứ ba của không những người Việt Nam tị nạn ở hải ngoại mà còn ở trong nước để họ đối chiếu và so sánh khi cần.
“Thôi thì thôi mộ người tà dương
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi”
(Ðộng Hoa Vàng-Phạm Thiên Thư)
Do đã vào khu chuồng cọp một hai lần trước đó ở trại Hàm Tân cũng như trại này, tôi không còn mối lo sợ nào nữa, dù rằng tôi biết chắc lần vào nằm “nghỉ mát” trong những cái hộp bé tí sẽ là lâu dài, tối thiểu cũng phải từ 3 đến 5 năm là giá chót. Xui hơn nữa thì có khi chưa đủ hạn đã phải ra nằm ngoài đồi thông rồi. Ðồi thông là khu nghĩa địa cho tù nhân của các phân trại thuộc A-20, nơi đã có hàng vài trăm ngôi mộ, có những mộ bia bằng đá khắc tên họ tù nhân, ngày sinh và ngày qua đời, nhưng hầu hết dưới những ngôi mộ này, chỉ có xác tù nhân bó chiếu hay bó cái chăn dạ mầu đỏ do trại phát. Quách Văn Trung, một luật sư đồng hóa thiếu tá cảnh sát, nguyên chánh sự vụ Sở Ngoại Kiều dường như là người đầu tiên khi chết có được một cái áo quan do đội mộc đóng bằng ván ép. Hơn một năm sau khi đến phân trại E thuộc A-20, Trung là người mở đầu cho chương trình thăm gặp gia đình vốn rất hiếm hoi ở một trại trừng giới như Xuân Phước.
Vào giờ đội của anh tập trung trước cổng trại để sẵn sàng ra đồng lao động sau khi ăn trưa thì anh được kêu tên ra gặp vợ.
Sự xúc động hiện rõ lên nét mặt và anh luống cuống đứng lên để vào nhà giam thay một bộ quần áo tươm tất hơn. Ðã trải qua nhiều trại trước khi lên tới A-20, Quách Văn Trung vẫn cố gắng giữ cái quần jean hiệu Lee mầu xanh và chiếc áo pull mầu trắng hiệu Lacoste. Trong mấy lần khám tư trang tại phân trại E, bộ quần áo của anh đã bị “tịch thu,” nhưng Trung cứ đeo theo trực trại xin xỏ và hứa nếu được thăm nuôi sẽ bảo vợ mang lên trại bộ khác để tặng cán bộ. Ðiều này khiến cho anh em trong trại không ưa anh và cũng có anh em đàm tiếu diễu cợt: “Anh Trung, anh là thiếu tá mà sao đến nỗi phải như thế. Nước đã mất, nhà đã tan chúng lấy cả mạng anh còn được nữa huống chi mấy bộ quần áo.”
Không may khi mặc xong quần áo xong, leo từ tầng trên xuống toan xỏ chân vào đôi giầy thì anh gục xuống. Anh em khênh lên bệnh xá nhưng không cứu được vì tai biến mạch máu não nghiêm trọng. Vợ anh vốn là một y tá bệnh viện, theo lời anh kể trước đó phải đi phục vụ chiến trường Campuchia mới trở về nhận được thư của chồng nên đã lên thăm anh ngay. Buổi tối hôm đó, bà Trung ngồi ngoài nhà thăm nuôi chờ đợi vì trực trại cho biết Trung vừa bị kỷ luật, cần phải cứu xét, có thể sáng hôm sau mới gặp được. Cái xe cải tiến chở chiếc áo quan đi ngang qua nhà thăm nuôi hôm đó là do mấy anh em bên hình sự đẩy đi chôn Quách Văn Trung trên đồi thông. Bà Trung nhìn thấy nhưng không bao giờ nghĩ đó là chồng mình. Sáng hôm sau tại nhà thăm nuôi, trực trại Luật báo cho bà biết là chồng bà đã qua đời vì tai biến mạch máu não. Không thể tưởng tượng nổi trên thế gian này lại có sự dối trá, che đậy đến mức phi nhân như thế!
Khi bị trật tự Của đẩy vào xà lim số 5, lập tức tôi phải nếm ngay món ăn chơi đầu tiên của Lý “lé.” Hắn chọn vòng cùm nhỏ nhất là 16, nhưng với cổ chân khẳng khiu của tôi vào lúc đó, vòng cùm này được coi như vẫn rộng. Lý “lé” bực mình gắt Của: “Có việc đó mà không làm được. Lấy búa đóng nó hẹp lại.” Của đi kiếm búa đóng để cho miệng vòng cùm khép lại gần hơn, nhưng vô phương. Mỗi nhát búa đóng xuống vòng cùng nháng lửa nhưng vòng cùm vẫn trơ trơ. Cuối cùng hắn đành phải cùm hai chân tôi lại bằng hai vòng cùm 16. Sau đó, Của bắt tôi cong người về phía trước để anh ta cùm thêm hai tay tôi vào thanh sắt 18 bắc qua bệ nằm bằng còng omega sau khi cởi chiếc áo lính tôi đang mặc, chiếc áo Ngọc “đen” may sẵn hai lớp vất xuống đầu nằm. Hắn nói: “Cởi áo cho mát, có thể dùng làm gối đầu.” Lại một lần nữa tôi bày tỏ thái độ không còn gì để mất. Tôi nói với Của: “Cán bộ bảo anh làm gì thì anh cứ việc làm, nhưng đừng có diễu cợt mất dạy như thế.” Khi Của vừa mới đạp tôi một đạp từ sau lưng làm tôi choáng váng và có cảm tưởng xương sống gãy lìa thì có tiếng trực trại Luật: “Của, ai cho anh làm vậy?” Lý “lé” đứng ngoài không nói gì. Luật tiếp tục lớn giọng với Của: “Tôi đưa chìa khóa cho anh nhưng anh phải chờ tôi vào mới được mở hay đóng cửa biệt giam. Anh làm việc với tôi hay làm việc với cán bộ Lý?” Luật ra lệnh tháo cùm tay cho tôi rồi đích thân, Luật khóa cửa xà lim số 5. Bên ngoài phòng giam, ở khoảng sân trước khu biệt giam, một trận cãi nhau, mày tao chi tớ diễn ra giữa Luật và Lý “lé.” Trận cãi cọ chắc chắn không bắt nguồn từ nguyên nhân một bên nhân đạo với tù cải tạo hơn và một bên thù hận ngập tràn. Lý “lé” người Quảng Bình và Luật người Nam Ðịnh, nhưng có thể nguyên nhân dẫn đến xích mích bắt nguồn từ từ sự tranh giành, cưa ghế nhau.
Lý “lé” làm cán bộ an ninh phân trại bề ngoài là người quyền hành chỉ sau trại trưởng. Anh ta còn kiêm nhiệm vai trò chính ủy. Nhưng thực tế, ngôi vị này có tiếng mà không có miếng. Còn Luật chỉ là trực trại nhưng cai quản cả ngàn tù nhân, trong số tù cải tạo chúng tôi có lẫn vào những ông “vua” bị kết án từ chung thân cho tới 20 năm trong đợt đánh tư sản mại bản. Phần lớn những ông “vua” này là người Hoa và rất nổi tiếng là người cầm trịch nền kinh tế VNCH trước 30-4-1975 như Lý Sen, Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên. Báo chí Saigon đã từng có thời gọi các “xì thẩu” Lý Sen, Lưu Trung, Trương Dĩ Nhiên là Lý Long Thân là “tứ trụ trong triều đình Chợ Lớn,” một triều đình với hình ảnh mờ mờ, ảo ảo bên cạnh Dinh Ðộc Lập, nhưng lại là những yếu tố quyết định đối với đời sống hàng ngày của dân chúng thủ đô Saigon và các tỉnh, từ giọt xăng, hạt gạo hộp sữa đến những chiếc máy cày, máy đuôi tôm và những nông cụ không thể thiểu được trong nền kinh tế vẫn còn nặng về nông nghiệp.
Dưới chế độ VNCH, họ là những ông vua thực sự, lũng đoạn nền kinh tế quốc gia công khai ngay trước mắt quyền lực của Dinh Ðộc Lập. Nhưng sau 30 tháng 4, 1975 họ chỉ còn làm vua ở trong các nhà tù của Cộng sản. Quà thăm nuôi của họ là những bao bố chỉ xanh chứa đầy thịt muối, lạp xưởng, thuốc lá, thịt hộp, sữa bột và một nửa phần quà đó là dùng để “biếu xén” cán bộ trại, trong số đó dĩ nhiên không thể thiếu trực trại Luật. Lưu Trung, một ông Tầu Chợ Lớn thâm trầm hơn dường như là “đầu tầu” của các xì thẩu trên nên đã có lần cảnh cáo Lý Sen vì ông tầu này có lẽ sinh ở gần kho đạn thành thử hay nổ về cách làm ăn trước 30 tháng 4, 1975 : “Lù mẹ… tiền nị bao nhiêu mà miệng lúc nào cũng như cái ống nhổ chớ… Chung quanh… anh em người ta khổ quá mà sao nị cứ khoe của vậy… Coi chừng cái lưỡi bị cắt lúc nào không hay á…”
Bị giải giao lên Xuân Phước được khoảng một năm, các xì thẩu này được kêu tên khăn gói quả mướp ra về để “được” tống xuất ra nước ngoài sau khi đã để lại hết tài sản ở Việt Nam. Mãi về sau này, khi được thả ra khỏi trại giam, một vài nguồn tin nói với tôi rằng sở dĩ Cộng sản đưa những ông vua này lên A-20 cũng chỉ là để áp lực họ phải khai báo hết tài sản còn lại và ký giấy chịu “bỏ của chạy lấy người” sang Hồng Kông. Trong khi nhiều anh em sau này gặp nhau cứ bàn tán mãi về chuyện cãi lẫy căng thẳng giữa Luật và Lý “lé” để suy diễn ra nhiều “hot news” có liên quan đến các ông vua, nghe rất tức cười. Cá nhân, tôi coi câu chuyện không có gì đáng để ý cả mà điều đáng để ý là làm sao đối phó với những đòn trừng phạt trong những tháng đầu tiên trong chuồng cọp, chứ còn sau đó nếu còn sống, tôi vẫn tin rằng mình thích ứng được với môi trường mới. Cú đạp của trật tự Của làm cho lưng tôi ê ẩm, nhưng vẫn cố gắng vặn vẹo để xem mình có đến nỗi nào không. Thấy vẫn có thể nằm ngửa và tự mình ngóc đầu dậy không có khăn lắm, tôi yên tâm với cái áo lính mặc vào, kéo cái thùng tiểu rồi cố gắng uốn mông ra khỏi bệ nằm tiểu thử xem có gì khó khăn không. Người bị cùm hai chân mỗi lần đi tiêu hay tiểu là một cực hình. Ðây đúng là một trò không những hành xác mà còn là một nhục hình khá tàn bạo.
Ánh nắng buổi trưa lọt qua lỗ tò vò cũng đủ làm cho tôi thấy rõ một bức họa trên bức tường được những người vào trước tôi vẽ lại gồm máu muỗi, những lời lẽ bậy bạ, những ô vuông gạch chéo để đánh dấu số ngày họ bị biệt giam. Nhưng tôi đặc biệt chú ý tới một mấy câu thơ được khắc trên tường. Tác giả khắc theo kiểu thư pháp rất đẹp và đầy tính nghệ thuật với nội dung như tôi trích dẫn hai câu trên đầu bài: “Thôi thì thôi mộ người tà dương. Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi.”
Chỉ có hai câu của bài thơ “Ðộng Hoa Vàng” trong hoàn cảnh ấy cũng đã vẽ lên trước mặt tôi bức tranh thủy mạc tuyệt đẹp mà Phạm Thiên Thư đã cung hiến cho đời. Câu thơ ấy lần đầu tiên kể từ ngày tôi đi tù và phải đối phó với sự hành hạ rất căng thẳng của kẻ chiến thắng đã có khả năng làm trái tim nguội lạnh của tôi sống lại hình ảnh của Ty* khi nàng thăm gặp tôi lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tại nhà tù Chí Hòa trước khi tôi bị đày đi trại lao cải. Hôm đó nàng mặc chiếc áo bà ba trắng và chiếc quần dài mầu đen. Với 15 phút gặp mặt mỏng manh, chúng tôi không nói được điều gì với nhau ngoài chuyện hỏi thăm sức khỏe và nước mắt. Tôi cũng không thể nắm tay Ty và cũng không thể ôm mẹ tôi bởi vì lúc đó người tù cải tạo nào bị đưa về Chí Hoa thẩm cung cũng đều bị ghẻ kềnh ghẻ càng. Ty chỉ kịp đưa cho tôi bức hình chụp bán thân của nàng và mấy câu chú viết bằng chữ Hán của bộ kinh Lăng Nghiêm rồi nàng dẫn mẹ tôi theo đoàn người bước ra cổng trại.
(* Tôi gặp lại Ty 17 năm sau ở Nam California và 2 năm sau đó chúng tôi lập lại gia đình sống với nhau cho tới nay cũng đã gần 20 năm.)
(Còn tiếp)










