Tác giả: 35-027
Thời gian như tên bay. Mới đó mà đã hơn 38 năm trôi qua. Câu “tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu” của nhà văn Vũ Trọng Phụng, tác giả tiểu thuyết “Giông tố” phần nào phù hợp cuộc đời phiêu bạt của cậu học trò quê mùa, mất mẹ lúc lên mười, trượt vỏ chuối lần đầu thi Trung học đệ nhất cấp ở tuổi mười lăm, phải xa lìa người thân, nơi chôn nhau cắt rốn, di cư vào Nam. Một thân một mình, lăn lộn với cuộc sống nhiều cam go, thử thách, cuối cùng cũng kiếm được việc làm tương đối thích hợp, mong lúc nhắm mắt, thân xác được chôn vùi tại miền Nam, nói chi đến ước mơ yên nghỉ nơi quê cha đất tổ.
Nào ngờ sau 21 năm, lại một lần nữa, khăn gói quả mướp, di cư lần thứ hai. Trước khi đi, các sếp Mỹ không khỏi khuynh đảo, lung lạc tinh thần, khuyến cáo nên ở lại, nào là “làm sao thích nghi với cuộc sống mới”, “có tìm được việc mưu sinh” hầu nản lòng, giảm thiểu số người muốn ra đi, càng ít càng đỡ gánh nặng. Chẳng có kết quả, các sếp đành thôi, không “tâm lý chiến” với những nhân viên cứng đầu nữa. Tuy đã túc trực tại sở từ vài ba ngày trước, mãi tới chiều 28 mới được hối thúc lên xe ra phi trường, tạm trú trong những lều vải nóng bức với rào kẽm gai xung quanh vừa được dựng lên. Bên ngoài, bánh mì được bán với giá mỗi Đức Thánh Trần một ổ; dân chúng hoang mang, hốt hoảng, xe cộ ngược xuôi như mong tìm đường thoát.
Chưa kịp sắp xếp chỗ qua đêm, lại lật đật leo lên vận tải cơ vì nghe đâu phía bắc phi trường đang bị pháo kích. Còn đâu tâm trí để nghĩ tới sự an toàn cho gia đình khi sàn phi cơ chật như nêm cối (ghế xếp lại), đầy hơi người với cảnh vợ sinh con gái chưa được sáu ngày lại bị băng huyết. Thật hú hồn, con nhỏ không bị chết ngạt. Và rồi cả nhà cũng tới được Subic Bay. Một số sinh viên ra đón mà chẳng hiểu họ đã có mặt tại đây từ bao giờ và động lực nào khiến họ có cử chỉ thân thương này? Phải chăng “Nhiễu điều phủ lấy giá gương” đã có từ ngàn đời nơi con Hồng cháu Lạc? Màn đêm buông xuống, gió biển se lạnh, hướng về đất mẹ thân yêu, chiến tranh khói lửa mà lòng quặn đau, nước mắt tự nhiên tuôn trào. Quê hương ơi! Vĩnh biệt.
Suốt đêm thao thức khôn nguôi, buồn nản cùng độ, sáng sớm hôm sau lại tiếp tục hành trình. Subic Bay, đầu cầu tiếp nhận, không thể dung nạp quá nhiều, đoàn người lại hàng hàng lớp lớp, ra đi, hết máy bay này qua máy bay khác, và đến ngày 30 thì tới phi trường quân sự Anderson, bang Hawaii. Vừa rời khỏi máy bay, lon “guigoz” đựng ít thịt kho tiêu trong xách tay của vợ được nhân viên kiểm soát thản nhiên vứt vô thùng rác dù đã có lời giải thích. Thiết nghĩ kiểm phẩm được áp dụng chặt chẽ mấy đi chăng nữa, chưa hẳn món thịt kho Việt cho người mới ở cữ đã thiếu vệ sinh, an toàn so với thực phẩm tương đương, sạch sẽ nhất của Mỹ. Nhưng miệng lưỡi nhà giầu “có gang, có thép”. Thôi đành chào thua cách xử sự thiếu tình người. Bẽ bàng thứ hai, trên chuyên bay từ Anderson vào Los Angeles, vợ thấy trong túi xách còn ít giấy 500 đồng vô dụng, đưa tặng cho một hai đoàn viên phi hành như kỷ niệm một chuyến bay, đều bị từ chối với lý do không nhận quà cáp. Phải chăng cử chỉ lịch sự này đươc coi như một hình thức hối lộ, càng khiến người trong cuộc không khỏi ngượng ngùng.
Thế là hành trình trên mười ngàn dặm, không quá năm ngày, từ quê hương đang thất điên bát đảo với cuộc đổi đời quá mau, đã chấm dứt tại doanh trại Thủy quân Lục chiến Mỹ, Camp Pendleton, California, để rồi đêm đêm nghe tiếng hú của sói rừng và ngày ngày xếp hàng nhận phần ăn. Điểm đáng ghi nhớ trong thời gian tạm trú nơi đây là sự sắp hàng khá kỷ luật khi lãnh thực phẩm. Ngay hàng thẳng lối, không còn xa lạ gì trong quân ngũ, nhưng ngoài dân sự, nào thấy phong cách xử sự lịch lãm đó nơi cung cấp dịch vụ công thường ngày. Giờ đây, hàng loạt quý ông tai to mặt lớn, các bậc mệnh phụ phu nhân, có lẽ “anh hùng mạt vận” hoặc “đói đầu gối phải bò”, thản hoặc “gặp thời thế, thế thì phải thế”, đã nghiêm chỉnh sắp hàng, kẻo lỡ anh lính Mỹ can thiệp thì thật bẽ mặt. Một cử chỉ đáng ca ngợi, một bài học đáng ghi nhớ, duy trì nơi cộng đồng tỵ nạn. Mong sao tránh được kinh nghiệm ông bà để lại “anh em trong nhà khó bảo nhau”.
Và việc gì phải đến, đã đến. Sau những lần vào trại thăm viếng, phỏng vấn, của vị Linh mục một xứ đạo Công giáo, gia đình được bốc ra đầu tiên. Như chim xổ lồng, vỏn vẹn vài xách tay, dăm bộ quần áo nhàu nát, vợ chồng, con cái rời căn lều 19F, leo lên chiếc Volkswagen màu cam của vị Linh mục, sẵn sàng “guốc bay” (good-bye) vùng đồi núi cát bụi, sau hơn hai tháng ăn nhờ ở đậu thật nhàm chán, chẳng còn chi lưu luyến. Choáng váng khi vào xa lộ, xe cộ nườm nượp, tốc độ thật nhanh, nhưng kỷ luật hàng lối, một cảnh tượng chưa từng thấy tại hòn ngọc Viễn đông.
Vì ban tiếp nhận chưa kịp sắp xếp nơi ở, gia đình được đưa tới nhà riêng của một trong số những người trách nhiệm. Lại thức trắng đêm, phần buồn nản, phần cảnh lạ nhà, với tiết trời trở lạnh dù mới đầu tháng bẩy.
Sáng sớm, vị Linh mục gửi tới một người trong ban điều hành, giúp đi tìm việc. Chẳng biết có phải may mắn hay không mà chỉ mới qua một đêm ngủ nhờ đã tìm được việc: rửa xe với giá $2.10/giờ. Tính theo giá biểu Sứ quán Mỹ cho phép nhân viên địa phương được đổi tối đa 3 triệu đồng Việt lấy 2,000 Mỹ kim, 1500 đồng Việt cho 1 Mỹ kim, vị chi mỗi giờ đã lên tới 3150 đồng. Nếu làm tám tiếng mỗi ngày, số tiền kiếm được đã bằng cả tháng lương cho một sỹ quan cấp tá độc thân. Nào đâu có hay đó chỉ là giá sinh hoạt tối thiểu tại nơi vội vã nhận là quê hương thứ hai.
Khốn nỗi những nguy hiểm, cực nhọc sau hơn tám năm quân vụ được đền bù bằng gần tám năm ngồi trong phòng lạnh, nên đã không kham nổi việc lau xe bóng loáng cho phòng trưng bày. Quí vị hay quí bạn nào từng là những người tị nạn đầu tiên, hẳn đã thấy hình dạng chiếc xe Vega đời 75 với dàn kiếng sau gần như ngang bằng với nắp thùng xe. Thế mà ông xếp Mỹ, trưởng toán bảo trì, còn mỉa mai, tiếu lâm “nhỏ con, dễ luồn”. Thực ra cũng không đến nỗi nếu đừng so sánh theo tiêu chuẩn Mỹ. Với chiều cao 1 thước 65, từng được chọn là 1 trong 10 người đi hàng thứ hai của 200 sinh viên sĩ quan trừ bị trong cuộc diễn hành Quốc Khánh 26 tháng 10. Nhưng với sức nặng thì xem chừng mấy bà bệ vệ (xin hiểu theo nghĩa bóng), hoặc mấy cô mát da, mát thịt (nghĩa đen, nghĩa bóng sao cũng được) cũng phải phân bì, ganh tị bởi không đến 115 pounds (lại lầm với tiêu chuẩn Mỹ rồi, rất nhiều quí vị phụ nữ Việt chưa tới 100 pounds). Đi làm về, quần áo ướt nhẹp, thở không ra, xương cốt rã rời, khó nuốt trôi hotdog, hamburger dù chẳng còn xa lạ với những món này trong trại tiếp cư. Thấy việc quá nặng nhọc, nói chi đến triển vọng, lại thêm ái ngại về sự đưa đón của viên chức trong ban định cư, cứ sáng chở đi, chiều đón về, đành thưa với vị linh mục “đã lâu không lao động tay chân, con khó có thể tiếp tục việc nặng nhọc này, hơn nữa, việc không xứng với sự chuyên chở đầy ưu đãi và hy sinh thời giờ của vị trách nhiệm”. Vị Linh mục không nói gì nhưng vẻ mặt hơi buồn. Vâng, con không muốn phiền lòng cha và quí ban định cư, chỉ muốn tỏ bày sự thật. Và công việc đầu tiên trên xứ người kéo dài được đúng ba ngày.
Vừa nghỉ việc cũng là lúc ban điều hành hoàn tất giao kèo thuê mướn hai dẫy chung cư gồm tám apartments cho người tị nạn và gia đình lại đầu tiên được dọn vào. Đôi chút thoải mái thoáng qua nhưng giao động tâm tư vội trở lại, lo lắng không biết rồi đây cuôc sống nơi xứ người sẽ ra sao? Liệu có thể kiếm được việc làm như khuyến cáo của mấy xếp lúc ra đi?
Muốn đi làm phải có phương tiện di chuyển. Làm sao đủ may mắn tìm được công việc gần nhà để có thể đi bộ hoặc tiện đường xe “buýt” (bus)? Khó lắm. Chả lẽ cứ cậy nhờ nhà thờ bảo trợ? Được bao lâu? Cứ tiếp tục ỷ lại ư ? Không thể kéo dài mãi được. Thôi đành đưa ý kiến lên ban định cư giúp liệu có cơ may tìm học luật đi đường và lái xe. Thế là ngay chiều hôm đó, một thành viên trong ban định cư đã tới chi nhánh Nha Lộ Vận gần nhất, mang về cả 10 cẩm nang hướng dẫn lái xe bằng Anh ngữ. Người viết không gặp trở ngại khi học, vì đã làm việc cho Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ tại Sài gòn gần tám năm. Nhưng phải thành thực ca ngợi ý chí khuất phục trở ngại thật mãnh liệt, sự cố gắng vượt bực nơi đồng hương.
Sau vài ngày học hỏi, lại đưa thêm ý kiến, có vị nào trong ban định cư giúp tập lái xe. Mãi về sau, mới nhận ra sự hy sinh khá liều lĩnh của một số ân nhân, khi không có giấy phép, dám ngồi bên cạnh chỉ dẫn người chưa hề thân quen học làm tài xế. Hoan hô nghĩa cử cao đẹp và xin ghi ơn về sự giúp đỡ đầy mạo hiểm này. Riêng người viết, một lần duy nhất được bà Sơ tại một giáo xứ khác, bằng lòng ngồi ghế trưởng xa, cho lái xe trên quãng đường vài ba miles đến giáo xứ bảo trợ để rồi sáng hôm sau ra Nha Lộ Vận thi bằng lái.
Tuy hơi khớp vì giao thông quá nhộn nhịp, xe cộ như mắc cửi, nhưng tự nhủ với lòng, ít ra mình cũng đã lái xe mười mấy năm tại quê nhà, từ Jeep nhà binh (bị phạt trọng cấm vì dành việc của tài xế) đến xe bảng vàng mang số ngoại giao, làm ngứa mắt các thầy cò phụ trách giao thông, nên bằng lái đã hai lần bị thu hồi, có đóng triện nhưng không nêu lý do nên chẳng hiểu có phải vì người có bằng không chịu thi hành thủ tục “đầu tiên”, căn bệnh di truyền mà thi sĩ Tú Xương đã không ngần ngại chỉ trích khi “chữ y, chữ chiểu không phê đến, ông chỉ phê ngay một chữ “tiền” mà ra nông nỗi. Mảnh bằng cho phép lái xe máy dầu và du lịch, sau hơn 50 năm, đến nay vẫn được giữ như một kỷ niệm. Nghĩ cho cùng, chẳng lỗi lầm gì, đành cắn răng chịu, nhưng thấy hãnh diện, cái hãnh diện của chú sói không khuất phục, thà lặng thinh chết chứ không hèn nhát, rên rỉ, kêu la như ý thơ của Alfred de Vigny trong bài “cái chết của sói”.
Thật may mắn, thi viết được 100% nhưng đến khi thi lái, thì chao ôi, vừa đủ 75% tối thiểu để khỏi phải thi lại. Thiển nghĩ lúc thi lái, người thi có đủ bình tĩnh, tự tin hay không, nhưng hầu hết tùy thuộc vào sự định đoạt của giám khảo ngồi bên cạnh. Vị này có thoải mái, đồng ý hay tim đập thất nhịp vì các động tác, phản ứng của người thi? Giá như bên nhà, hẳn là dịp thuận tiện cho kẻ đưa, người nhận, nhưng đây, ứng viên, dù mới chân ướt chân ráo, e dè chưa biết phong tục, tập quán xứ người, cũng đã cành tỉnh, không sa vào lỗi lầm đáng tiếc. Ý thức trách nhiệm thật đáng kính phục. Nhưng liệu “lobby” ở Mỹ có phải là một hình thức hối lộ? Khác chăng, một đàng tìm lợi lộc cho một tạp thể, một đàng riêng rẽ cho cá nhân. Nếu phải thì quả là những tư tưởng lớn Đông, Tây đã không hẹn mà gặp. Có điều, lobby thì hợp pháp nhưng bribery lại là trọng tội.

Chút kỷ niệm còn lại của hai lần đi. (Hình: Tác giả cung cấp)
Bước đầu trong tiến trình hội nhập xem ra không mấy khó khăn, nhưng những bước kế tiếp không thiếu cảnh dở khóc, dở cười. Số là trong chuyến “thăm dân cho biết sự tình” của bà Giám đốc Di trú và Định cư của Hội đồng Giám mục Hoa kỳ, từ Los Angeles xuống, kẻ hèn này nêu lên thắc mắc về các phương thức giúp người tị nạn trong cuộc đối thoại khá sôi nổi, lớn tiếng, bởi có mặc cảm thấy mỗi lần ghé vô chợ, tuy thịt cá chẳng dám đụng tới, nhưng lúc ra tính tiền thì lại chính người trong ban bảo trợ viết check. Kết quả là, sau cuộc họp nhận được”giấy báo đuổi nhà” (notice of eviction). Hơn hai tuần sau, giấy này đuợc lặng lẽ thu hồi y như bằng lái nêu trên, tuyệt nhiên không có vi thiềng, thôi thì “nhân dĩ hòa vi quý”.
Lần khác, khi làm ca đêm bị cho “đi chỗ khác chơi” cũng chỉ vì (va chạm văn hóa truyền thống) đáp trả thẳng thừng sự cằn nhẳn to tiếng, thiếu tế nhị, lịch sự, của xếp khi đang dùng bữa (trời đánh, tránh miếng ăn), để rồi ngay sáng sớm, nhận check lương sau cùng và đi không trở lại. Hơn ba mươi năm trả nợ cơm áo qua năm, sáu công việc, không kể việc rửa xe ba ngày, đều là những việc tự tìm lấy, chưa hề biết đến check trợ cấp thất nghiệp, thì đã đi làm lại, từ việc ngắn nhất ba tháng, cho đến dàì nhất, hơn hai mươi năm. Trong suốt tiến trình, đã gặp không biết bao nhiêu tranh dành, đố kỵ, ganh tị trong công việc, đặc biệt không có người Việt nào nơi phân bộ hơn ba chục nhân viên. Thật không thiếu những hiềm khích, phe phái tại một xứ, được coi như có trình độ văn minh, dân chủ bậc nhất thế giới. Dù đã cố gắng kìm hãm, nhân nhượng, vẫn thấy xót xa, buồn tủi. Giờ đây, tuy không có được những giây phút an nhiên tự tại của cuộc sống về hưu, cũng phần nào được an ủi khi thấy thế hệ tiếp nối với những thành quả vẻ vang, vinh danh dòng giống, đàn con lũ cháu không còn phải ngậm bồ hòn, lép vế cảnh “cháo hoa nằm sấp” như cha ông của chúng.
Trên đây chỉ là vài ba kinh nghiệm, nhận xét cá nhân, nhớ sao ghi vậy. Biết đâu, nhiều người may mắn, có được những cơ hội thuận lợi, suông sẻ ngay lúc đầu, không gặp cảnh “cá lớn nuốt cá bé”. Người ta ăn nhau cái số (people eat one another by the number, một câu dịch từng chữ đầy bỡn cợt, hài hước, một chút xả hơi, từ các bạn trẻ sinh viên, ngày còn bén mảng Đại học Văn khoa). Với tuổi gần đất xa trời, trí óc suy thoái, dù cố đào sâu tiềm thức, cũng chẳng còn tìm được bao nhiêu. Người Việt, theo ngu ý, rất tinh tế, không thiếu ý chí tự cường, ham học hỏi, tiếp nhận, mau chóng thích ứng với hoàn cảnh nên đã không mấy khó khăn, tránh được rất nhiều dị biệt văn hóa, nếp sống xã hội.
Để kết thúc bài viết, và nhớ lời khuyên “uống nước nhớ nguồn”, xin chân thành ghi ơn các nhà hảo tâm, những cơ quan cứu trợ, các tổ chức thiện nguyện, đã vì tình nhân loại, dùng những con tàu, cứu vớt các thuyền nhân vô vọng, mà nay đã là bác sĩ, kỹ sư, thương gia, viên chức công quyền, những thành phần ưu tú, những tinh hoa, đang “ăn cây nào, rào cây ấy”, đóng góp vào sự phồn vinh cho quê hương thứ hai.
“Miếng ngon nhớ lâu, điều đau nhớ đời”, không quên chia sẻ nỗi thống khổ, tủi nhục của một số nạn nhân bị hãm hiếp, cướp giật trên biển cả. Cũng xin được thắp nén hương lòng nghiêng mình trước anh linh các đồng bào đã bỏ mạng sống vì lý tưởng tự do.










