Tác giả: 35-032
Tôi tới Palawan-Philippines khi trại tị nạn đã đóng cửa (cut-off date) vào ngày 14 Tháng Ba, năm 1989 nên chuyện định cư ở đệ tam quốc gia trở nên khó khăn và mờ mịt vì còn phải trải qua tiến trình thanh lọc xác định tư cách tị nạn do thế giới tự do và Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc vừa áp đặt cho những kẻ đến sau mà chương trình này nôm na được gọi tắt là CPA, từ các chữ tiếng Anh là The Comprehension Plan Of Action tức Chương Trình Hành Động Toàn Diện theo tiếng Việt mình.
Dù chưa ai rõ thể thức thanh lọc người tị nạn này như thế nào nhưng tôi nhẩm tính chắc cũng mất khoảng chừng hai năm ở đây bởi còn phải trải qua “tiền thanh lọc*” nữa. Nhưng dân PA**; là mấy người đến trước khi đảo đóng cửa lại cho rằng đám PS*** chúng tôi ít nhất thì cũng phải “trồng một cây dừa cho đến khi nó có trái” rồi mới được đi! Mà thời gian trồng cây dừa cho tới lúc dừa có trái là ba năm có nghĩa là theo họ suy đoán thì chúng tôi phải lưu lại đây bằng chừng ấy thời gian mới xong. Có những người PS chúng tôi nghe vậy thì không thích hoặc không vui vì họ nghĩ mấy người PA kia cũng đâu biết gì về CPA và lập luận ấy của họ chỉ làm cho hy vọng của bọn tôi thêm mong manh mà thôi. Nhưng đâu ai ngờ là ngày sau có nhiều người PS phải trồng tới năm hay sáu cây dừa mới tới được bến bờ tự do! Tuy nhiên lúc đó thì kẻ nói qua, người nói lại khiên cho đám “new comers” chúng tôi thêm hoang mang. Thế nên tôi tự nhủ lấy lòng “tị nói, nạn nghe làm sao biết trúng trật được? Thôi cứ lo học Anh Văn trước cho chắc ăn cái đã!” Vì vậy tôi miệt mài đến trường để tạm quên khó khăn trước mắt.

Hình tác giả cung cấp
Thời gian này có rất nhiều các thiện nguyện viên trẻ người Việt cũng như người ngoại quốc sang trại làm việc giúp đỡ những kẻ thiếu may mắn. Đa số họ là các nam nữ sinh viên đang còn đi học hay đã ra trường với đầy nhiệt huyết, với lòng vị tha, họ mong muốn mang tình thương đến để xoa dịu bớt phần nào nỗi đau khổ cho những đồng bào bất hạnh của mình. Và công việc của họ thường là dạy học hay day nghề mà trong số đó tôi còn nhớ mãi lớp học Anh Văn với cô giáo Thu ở CADP. Cô là cô gái còn rất trẻ, vừa mới ra trường, thành viên của nhóm Project Ngọc. Cô sang giúp chúng tôi với tâm nguyện của nhóm là mang tình thương đi xóa bỏ niềm đau theo như tôn chỉ của nhóm. Nghe cô kể về Ngọc người con gái bất hạnh và mục đích của project này tôi cảm thấy thương cho số phận của Ngọc, kính phục tấm lòng xã thân hy sinh của những anh chị em khởi xướng ra chương trình này và cảm thấy mình còn quá may mắn. Rồi một hôm để thay đổi không khí, cô Thu dạy cho lớp chúng tôi hát bài “Sound of silence” của Simon và Garfunkel. Đó là bài hát tiếng Anh đầu tiên mà tôi học và rất thích bên trại tị nạn khi ấy. Đi học là vui và lợi ích như thế, vậy mà do viễn ảnh đen tối của ngày mai, một số người khác lại buồn cho số phận nên thường tìm quên trong bia rượu. Đây là một trong các nguyên nhân chính khiến trại tị nạn có nhiều bất an, không ổn định!
Năm tháng ấy, ngoài thời gian đi học, lãnh lương thực hay hứng nước ra phần lớn dân tị nạn có thêm hai cái thú vui nữa là đi tắm biển và tới thư viện đọc sách báo. Tắm biển thì người ta thường tắm vào sáng sớm hay đợi chiều chiều khi mặt trời ngã hẳn về hướng tây cho nắng dịu bớt, cho trời bớt nóng mới kéo nhau ra bãi. Riêng thư viện thì trại PFAC (The Philippine First Asylum Camp) có ba cái. Một là Thư Viện Trung Tâm của trại nằm ở Khu Tám, cái thứ hai là thư viện của cơ quan CADP (The Center Asisstance Of Displaced Persons) mà tiếng Việt thường gọi là Trung Tâm Trợ Giúp Những Người Mất Nơi Cư Trú. Cái thứ ba nằm trong khuôn viên Nhà Thờ Nữ Vương Hòa Bình nên còn được gọi là Thư Viện Nhà Thờ. Thư viện này tuy nhỏ nhưng ngăn nắp, trật tự và yên lặng là nơi rất tốt cho những ai muốn tĩnh tâm. Tôi vì là con “mồ côi,” không tiền mua rượu bia nên ngoài hai thú vui kể trên, thường tập tành viết lách, trải rộng nỗi niềm trên các trang giấy trắng do đó hầu như suốt ngày tôi luôn có mặt trong thư viện. Thư viện thì từ lúc mở cho tới khi đóng cửa lúc nào cũng chật ních người, thậm chí lắm hôm không còn đủ ghế cho độc giả ngồi khiến nhiều người cứ ngồi bệt ra nền xi măng hay trong góc kẹt nào đó của thư viện để xem mà chẳng màng gì tới người xung quanh.
Ở Việt Nam báo chí hiếm hoi và chỉ nói một chiều nên đọc các báo như Saigon Giải Phóng hoặc Nhân Dân rất là chán. Sang đây dù đang ở trại tị nạn nhưng vẫn là trên đất nước Phi tự do, sách vở, báo chí rất nhiều và lắm quan điểm, ý kiến khác nhau được công khai bày tỏ nên đọc tha hồ và rất là thích. Đúng là đệ tứ quyền, tức quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, được tôn trọng một cách rỏ ràng hơn. Do đó mà tôi thấy công lao khó nhọc bao năm mình tìm đường vượt thoát, bao lần vất vả vì tù tội quả thật không uổng khi tới được nơi này.

Hình tác giả cung cấp
Trong các báo ở thư viện, tôi thích nhất là báo Làng Văn, nhật báo Người Việt và báo Đường Sống. Làng Văn thì mỗi tháng ra một số mà trong đó tôi tìm vào để xem các truyện ngắn rất hay. Đọc báo Người Việt thì tôi biết thêm về cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng người Việt mình bên Mỹ, vì hầu như tất cả tin tức nóng hổi, sốt dẻo… đều được đăng ở đây. Tuy vậy khi báo đến tay chúng tôi thì không còn… nóng lắm! Bởi lẽ là nhật báo mà lại là báo biếu cho đồng bào tị nạn ở tận các miền Châu Á xa xôi nên đôi khi cả tuần hay mười ngày sau báo mới được gởi đến trại tị nạn thì đã…nguội! Nhưng dù sao lúc báo cũ ấy tới tay bọn tôi thì vẫn mới như thường vì đó là món ăn tinh thần mà thời đó chúng tôi vẫn chẳng kiếm đâu ra được nếu không có nghĩa tình ruột thịt của đồng bào hải ngoại gởi tặng nên nhiều tờ nhật báo đã rách bươm mà thư viện vẫn cố giữ lại cho đồng bào xem đến khi báo mới về thì mới chịu vứt bỏ. Còn tờ báo Đường Sống nếu tôi nhớ không lầm thì cũng một tháng mới ra một số và tài chính do bên Công Giáo Việt Nam phụ trách thì phải. Và tờ bào Đường Sống này là một trong mấy tờ báo gối đầu nằm của chúng tôi vì có nhiều mục, tin tức thật sự liên quan đến thân phận thuyền nhân, những bài tường thuật về thảm trạng tang thương trên biển của người vượt biên như câu chuyện 52 Bolinao; là chuyện chiếc ghe bị chiến hạm Mỹ USS Dubuque bỏ rơi trên biển năm 1988, không vớt, để cuối cùng phải ăn thịt lẫn nhau cho khỏi chết vì đói đã làm chấn động thế giới, khiến cho sau đó đại tá hạm trưởng của chiến hạm phải ra tòa án quân sự và bị tù rồi mất chức trước sức ép của lương tâm nhân loại, mà thực sự ra ông chỉ là “con dê tế thần” cho chính sách tị nạn của Hoa Kỳ về vấn đề thuyền nhân lúc ấy mà thôi!
Ngoài báo chí, thư viện còn có vô số sách quý như sách học làm người của Nguyễn Hiến Lê, những bức thư tình hay nhất thế giới, sách học Anh ngữ như bộ English 900, New English 900, Modern English hay Pháp văn thì có Francais Élémentaire, Cours de Langue 1, 2 của Mauger, sách lịch sử Việt Nam cận đại thì thư viện CADP có cuốn hồi ký “Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập” của TS Nguyễn Tiến Hưng, chuyện tù cải tạo, chuyện vượt ngục của Lý Tống trong quyển “Ó Đen” thậm chí Thư Viện Trung Tâm còn có cả nguyên bộ Encyclopedia nữa. Thư viện Nhà Thờ thì có nhiều sách về tôn giáo, giáo lý và thánh kinh. Tôi không biết thư viện ở các trại tị nạn khác thì thế nào chứ thư viện ở PFAClúc đó quả thật là vô cùng phong phú, đầy đủ!
Cùng thời điểm này tôi may mắn có vài ba truyện ngắn bắt đầu được đăng trên Xây Dựng Magazine, Saigon Nhỏ ở Mỹ và báo Chiêu Dương ở Úc. Sau cuộc biểu tình sáu mươi lăm ngày đêm chống thanh lọc bất công vào năm 1994 ở trại, một hôm tôi tình cờ nhận được tờ nhật báo Người Việt mà trong trang thứ bảy có đăng truyện ngắn của tôi khiến tôi rất vui vì đây là lần thứ nhất tôi gửi bài tới tòa soạn báo Người Việt ngay sau khi biểu tình chấm dứt bởi lúc tôi vừa viết xong thì biểu tình “nổ” ra nên không gửi đi được!
Năm 1996 giữa lúc nhân loại đang vui mừng đón ngày lễ “Tình Yêu” thì tại một hoang đảo xa xăm thuyền nhân Việt Nam ở Philippines đã hứng chịu một nỗi đau không bao giờ quên đó là để thực hiện cam kết quốc tế mà mình đã ký tại Genève về Chương Trình Hành Động Toàn Diện, ngày 14 Tháng Hai năm ấy, chính phủ Philippines đã dùng quân đội để tiến hành cưỡng bức thuyền nhân trở về nguyên quán khi đưa máy bay Air Bus 360 từ Việt Nam sang chở các người bị bắt trong chùa Vạn Đức và ngoài các khu từ mấy hôm trước. Nhưng việc cưỡng bức này đã bị sự phản kháng dữ dội của đồng bào trong trại Hàng ngàn người đã kéo nhau lên phi đạo ngăn chặn máy bay. Tiếng khóc la, van xin của người tị nạn, tiếng hò hét của quân lính, tiếng xịt nước của vòi rồng từ các xe cứu hỏa, tiếng dùi cui, ba trắc nện lên lưng những con người cùng khổ đã làm náo loạn một góc trời khiến cuộc cưỡng bức hồi hương đã bị chậm lại mất mấy tiếng đồng hồ. Cuộc cưỡng bức rồi cũng hoàn tất nhưng sự đàn áp này đã làm động lòng trắc ẩn của chính phủ và người dân của một đất nước có hơn 95% là công giáo khiến cựu Tổng Thống Fidel V Ramos sau cùng đã cho phép thuyền nhân Việt Nam được định cư tại chổ (Sur Place.) Đây là cuộc cưỡng bức đầu tiên và cuối cùng xảy ra tại Philippines. Và cũng có thể nói rằng chỉ có chính phủ Philippines là chính phủ duy nhất cho phép người tị nạn Việt Nam được lưu trú lại trên xứ sở của họ sau chương trình CPA mà thôi. Sự dang rộng vòng tay đó thể hiện hành động nhân đạo cao cả vô bờ bến, lòng bác ái bao la trong từng con chiên của một đất nước công giáo luôn sống trong tình yêu Thiên Chúa.
Lịch sử thuyền nhân đã sang trang, mọi người bắt đầu một cuộc đời mới. Riêng tôi, buổi đầu tiên với muôn vàn trở ngại khó khăn như chưa được cấp phát giấy tờ hợp pháp để hội nhập, không nghề nghiệp để đi làm, không vốn liếng để mua bán khiến tôi đâu còn lòng dạ nào nghĩ tới bút viết nữa. Chẳng biết tự lúc nào, tôi đã quên hẳn cái thú vui tinh thần bao năm ấy của mình để lăn xả vào cuộc đời đi buôn “bà ba ngố****” Tôi mua chịu hàng hóa của các dì người Việt có chồng Phi về nước sau năm 1975 để mang tới những nơi xa xôi như Mindanao là đảo nằm tận phía Nam của Philippines hay ngày ngày giãi nắng dầm mưa mang giày dép, dầu nóng, dầu thơm Saigon, quần lót, áo ngực của phụ nữ ra bày bán trước chợ Tanghay gần thành phố Dumaguete; là thành phố còn được gọi “The City of Gentle People” với đại học nổi tiếng Silliman, nằm trên vùng đồng bằng ở bờ biển phía đông nam của Negros Oriental trong quần đảo Visayan giữa Panay và Cebu, để kiếm cơm sống qua ngày. Cuộc sống lam lũ, buôn thúng bán bưng trong thời kỳ này đã thui chột mọi ước mơ, khát vọng ngày xưa để lại trong tôi các kỷ niệm cay đắng khó phai nhưng đồng thời cũng khiến tôi vững tin với khả năng tự lập mưu sinh, dù hèn kém nhưng không dựa dẫm, ăn bám vào ai của mình! Tôi khi đó như con thú hoang bị lạc đàn giữa rừng già, bị quăng vào đời như miếng giẻ rách, viết lách trở thành xa xôi, hoang tưởng trong thời buổi ấy!
Nhưng trời không phụ lòng người, Tháng Bảy năm 1999, tôi lên đường sang Mỹ trong các đợt định cư đầu tiên của những kẻ “long stayers” cuối cùng. Sau khi vác ba lô đi dọc rồi lại đi ngang từ San Jose tới Minnesota qua Virginia rồi lấy Amtrak xuôi về miền đông nam của nước Mỹ đến North Carolina để rồi dừng chân lại ở South Carolina. Tại đây sau vài năm, ổn định đời sống xong, tôi bắt đầu viết lại trong những ngày mưa buồn, cô đơn nơi xứ lạ quê người. Nhưng bây giờ thì tôi chỉ ngồi gỏ lạch cạch trên bàn phiếm chứ không còn cầm bút mơ màng nhìn qua cửa sổ quên trang giấy trắng, trong thời đại điện tử, online này nữa.
Cái nghiệp bút nghiên lớn dần khi báo Người Việt có trang điện tử. Nhờ báo online mà tôi đã cập nhật thông tin hàng ngày một cách lẹ làng, mau chóng. Cũng từ đây tôi có thể tham gia giải thi “Ba mươi năm tị nạn và chuyện đời tôi” do báo Người Việt phát động mấy năm trước một cách dễ dàng hơn. Thỉnh thoảng nếu có điều kiện và có thời gian rảnh rổi tôi nhớ tới chuyện viết lách của mình như “hổ nhớ rừng” của Thế Lữ nên lại thức khuya dậy sớm, loay hoay góp nhặt rồi gửi cho báo Người Việt như đã từng gửi “Những người chết sau cùng trong cuộc chiến” nhân dịp ngày 30 Tháng Tư năm 2010 hoặc cho báo Xuân Tân Mão 2011 với hồi ức tị nạn “Những mùa xuân bỏ lại” vậy!
Sáng nay, bên ly cà phê sữa đá ngồi nhớ lan man những ngày tháng cũ với báo Người Việt trong thời gian trước, mắt lơ đãng nhìn ra ngoài, chăm chú trông các chiếc lá “Flame Amur Maple” đã vàng, đang rơi, một cách thích thú. Bỗng từ cái CD cài trong computer vang vẳng vọng ra tiếng guitar nhẹ nhàng êm ái, giọng ca mượt mà “Hello darkness my old friend. I’ve come to talk with you again… And the vision that was planted in my brain still remains within the sound of silence. In restless dreams I walked alone… split the night and touched the sound of silence… People talking without speaking. People hearing without listening… disturb the sound of silence… Hear my words that I might teach you take my arms that I might reach you but my words like silent rain drops fell echoed in the wells of silence…Tenement halls whispered in the silence!” khiến lòng tôi nghe da diết, nhung nhớ những đau khổ là hạnh phúc của ngày xưa quá. Ngoài kia, nắng đang đùa giỡn trên bãi cỏ trước nhà, bâng khuâng một thoáng, thu lành lạnh.
Miami Township, Ohio
Mùa Thu, ngày 19 tháng 10 năm 2013
Ghi chú:
*: Pre-screnning
**: The Philippines Asylum
***: The Philippines Screening
****: Đi bán dầu thơm










