Tác giả: 35-054
Trời Sài Gòn dịu mát vào những buổi chiều cuối năm. Quảng rong ruổi trên chiếc xe đạp trên con đường chạy dọc theo bờ kênh Nhiêu Lộc. Mỗi lần về thăm mẹ và gia đình ở Sài Gòn, chàng vẫn thích đi bộ hoặc một mình đạp xe trên những con đường có nhiều cây cao bóng mát để tìm lại những góc phố quen thuộc mà ngày trước từng đi qua.
Mỗi nơi dường như gắn với một kỷ niệm nào đó mà mỗi khi đi qua thì những hình ảnh xưa cùng với những cảm xúc lại trở về một cách tự nhiên và mạnh mẽ như những chiếc lò xo trong một chiếc hộp kín bung ra khi hộp được mở nắp. Trên đường, dòng xe cộ lúc nào cũng dày đặc lao vun vút theo mọi hướng mà đôi khi người ta không thể nào đoán trước được. Cái nóng, không khí ẩm và bụi làm cho những chiếc nón bảo hiểm, những chiếc khăn che mặt và những cái áo dài tay phủ kín cả người luôn luôn là những thứ làm chàng cảm thấy vướng víu, khó chịu khi ra đường. Mỗi lần phải mang những thứ ấy vào người Quảng lại thèm cái cảm giác dễ chịu của da thịt khi được tiếp xúc với khí trời ở nơi chàng đang sống và để tránh những thứ lỉnh kỉnh ấy chàng luôn luôn chọn chiếc xe đạp là phương tiện di chuyển ở đây.

Hình minh họa: Họa sĩ Nguyễn Thanh Vân/Người Việt
Con đường dọc bờ kênh đã nhiều phần sáng sủa và sạch sẽ hơn những gì Quảng đang nhớ đến của khoảng thời gian hơn ba mươi năm về trước. Từ con đường này quẹo trái là điểm bắt đầu của nhiều con đường dài xuyên qua nhiều quận trong thành phố mà ngày trước người ta chỉ đến được khi phải lóc lách xuyên qua những căn nhà ổ chuột sát bờ kênh. Theo quán tính, Quảng quẹo vào đầu con đường dài đi qua những đoạn có nhiều hàng cây nên thơ của một thời sinh viên học sinh ngày trước. Chỉ một khoảng không xa, Quảng thoáng thấy bên trái là một khoảng đất trống trải hiếm có của một thành phố mà đất đai đã trở nên khan hiếm. Hình như người dân đã dọn đi để chuẩn bị cho một dự án nào đó sắp được xây dựng. Hai cột gạch cao của một cổng chào có từ trước vẫn trơ trọi đứng một mình mà với những viên gạch thẻ lộ ra khỏi lớp vôi màu xanh nước biển người ta có thể đoán chừng chúng đã có tuổi không dưới năm mươi. Quảng nhận ra ngay đây là cổng vào một khu gia binh quân đội ngày trước. Cái cổng đó là nơi chàng đã đi qua nhiều lần vào cái tuổi mới bước vào đời.
Con đường đất hẹp dẫn vào khu trại gia binh ngày trước nay đã không còn nhận ra được nữa. Thoạt nhìn toàn cảnh người ta có cảm giác như đang đứng trước cảnh tượng sau một trận động đất. Những ngôi nhà không còn mái, những đống gạch vụn, những bức tường gạch lởm chởm nhiều chỗ chỉ còn thấy dấu vết còn sót lại như những chân răng đã mòn tới tủy làm cho người ta không thể phân biệt được đâu là nền nhà, đâu là con ngõ hẹp chạy qua cửa nhà. Những nền nhà nằm trơ trụi liền nhau cũng chỉ được nhận biết bởi những màu xi măng khác biệt xen lẫn vào nhau như một tấm thảm xưa cũ nhiều màu đen xám rách nát. Ðó là những gì còn lại của khu trại gia binh dành cho những người lính bảo vệ Phủ Thủ Tướng ngày trước. Thuở đó, những ngôi nhà này liền vách với nhau bởi những bức tường nhiều khi không có lớp vữa bên ngoài, những mái tôn đã rỉ sét lớp hợp kim phủ chống nóng và chỉ đủ cao hơn tầm tay với của một người tầm thước mà mỗi mùa nóng những con người sống dưới những mái tôn ấy không thể tìm được chỗ nào mát hơn những cái gầm giường kê cao mà ở đó những đứa bé có thể chui vào trốn cái nóng của những buổi trưa hè tháng 4 ở Sài Gòn.
Quảng đưa mắt tìm dấu vết của con đường đất bằng cách dựa vào những cây trứng cá còn sót lại. Từ đầu cổng nằm sát mặt đường Phan Ðình Phùng cũ, chàng mơ hồ hình dung ra con đường đất hẹp với hai dãy nhà đối diện mà nhiều khi những cánh cửa chính của những ngôi nhà này nhìn trực diện vào nhau đến mức mỗi khi cửa nhà này mở ra người ta có thể nhìn thẳng vào bên trong của căn nhà đối diện như nhìn vào những căn phòng riêng biệt của một ngôi nhà duy nhất. Khi mùa mưa đến những dòng nước từ mái nhà này có thể chảy lên mái nhà thấp hơn ở phía đối diện rồi chảy xuống đất như những thác nước nhiều tầng trên các đỉnh núi. Con ngõ hẹp rẽ làm ba nhánh với một nhánh uốn quanh sang phía trái và chạy sâu vào những dãy nhà bên trong. Theo ranh giới bằng đất giữa những nền xi măng đối diện, Quảng đi chỉ khoảng chừng vài chục mét và chàng dừng lại khi nhìn thấy cái nền nhà xi măng màu đen còn xót lại. Có lẽ đó chính là cái nền nhà cũ của Phiên. Dưới ánh sáng vàng nhạt nhòa phát ra từ cái bóng đèn tròn duy nhất treo ở giữa gian nhà chính, màu đen của nền nhà do lớp vữa được trộn với dầu hắc có bề mặt đủ bóng để phản chiếu ánh sáng tạo nên một cảm giác sạch bóng dễ chịu cho những người sống trên cái nền nhà đó. Trên chiếc chiếu trải ra ở giữa nhà, Quảng và Phiên xếp bằng ngồi đối diện như những người đang tập Yoga nhưng ánh mắt cúi nhìn tập bài vở trước mặt để ôn lại những gì cần thiết cho bài thi cuối khóa ngày mai ở trường. Ðêm đã khuya Phiên ôm chiếc ghita dạo một vài khúc nhạc như để thư giãn sau những phút ôn bài.
Tiếng đàn vang trong đêm làm réo rắt thêm một khúc nhạc buồn của bài Thuyền Viễn Xứ. Có tiếng xe đạp của ai chạy qua nhà. Tiếng cọc cạch của xe nghe rõ mồn một sau cái cửa bằng gỗ mỏng. Quảng đưa mắt nhìn về phía Phiên như muốn hỏi về lai lịch của cái tiếng động lạ lùng đó. Ánh mắt của Phiên cũng đang nhìn về phía cửa khi nghe những tiếng động dường như rất thân quen mỗi ngày. Trong ánh mắt đó Quảng thấy dường như có một chút long lanh xuất hiện như của một kẻ si tình đang hướng trọn tâm hồn mình về một mối tình da diết sâu lắng.
Có tiếng thằng bé cựa quậy khóc thét lên ở phía sau tấm vách mỏng chia căn nhà làm hai: phòng khách và phòng ngủ. Thằng bé nằm co quắp trong một chiếc mền mỏng trên chiếc giường duy nhất đã biến dạng do sự kết hợp vụng về của những thanh gỗ làm dạt giường. Phiên chạy vào vỗ về thằng em út mới vừa hai tuổi mà Phiên là cái đầu của một con rết mười cặp chân.
Cha của Phiên, một người lính bảo vệ Phủ Thủ Tướng cũ, sau biến cố 75 học tập ít ngày rồi bỏ về Vị Thanh làm ruộng mang theo hai đứa con gái và một con trai. Về quê được ít lâu người ta bảo rằng ông ấy đã có vợ nhỏ. Thỉnh thoảng chỉ gửi ít gạo về cho mẹ và các em của Phiên ở Sài Gòn. Bà ấy lo. Nhiều lần bế thằng bé út về tận Cần Thơ tìm chồng. Mỗi lần chở Phiên đi học về ghé qua, thỉnh thoảng Quảng lại thấy mặt mũi của bà sưng húp như vừa trải qua một cơn khóc lóc sầu thảm pha lẫn với dấu vết bị đánh đập. Có những buổi chiều Chủ Nhật, đôi khi Quảng vẫn thấy bà đi lễ từ một nhà thờ ra với cặp mắt thất thần, tóc tai rũ rượi. Một tay bế thằng bé một tay đưa lên cao, miệng lẩm bẩm những gì mà không ai có thể nghe và hiểu được. Nhiều lần nghe lời Phiên, bà ấy để thằng bé út ở nhà cho Phiên chăm sóc và một mình về quê mà mãi đến cả nửa tháng sau mới thấy trở về. Phiên hỏi, bà chỉ khóc và nói: “Làm gì có tiền mà về!”
Phiên và Quảng được xếp cùng một tổ phải học chính trị tại trường ngay thời gian đầu sau 75 vì nhà ở gần nhau. Những ý kiến có phần khác thường của Phiên trong các buổi thảo luận ở trường làm Quảng có cảm giác gần gũi với một con người vóc dáng thấp nhỏ, mặt đầy mụn, dáng đi lè phè với đôi dép Nhật cùng với chiếc quần dài bạc màu, sờn gấu mà Phiên vẫn tự hào nói, “Tao chỉ có nhất y, nhất quần mà thôi nhưng chắc chắn không bao giờ làm một thứ ‘vệ binh đỏ’ trong trường.” Chính vì những điều như thế mà Phiên được gán cho biệt danh “Phiên tặc” hay “Phiên cẩu.”
Một lần, thấy dáng Phiên nhấp nhổm trong đám đông đón xe buýt ở đầu ngã sáu Cộng Hòa. Quảng dừng xe lại và đề nghị chở Phiên về. Chiếc xe đạp kiểu sườn ngang không có yên dành cho người ngồi ở sau từ đó có thêm người ngồi vắt vẻo phía trước trên những con đường về nhà của chàng. Quảng và Phiên trở nên thân thiết từ đấy.
Lần khác, sau khi lãnh được ít tiền gọi là học bổng Phiên rủ Quảng đi uống cà phê. Quán cà phê chỉ là mấy cái ghế đẩu thấp kê quanh một cái bàn có mặt gỗ thông đen ngòm do màu cà phê thấm vào lâu ngày cùng với một tủ kính nhỏ kê trên một cái bàn thấp khác mà trong đó người ta có thể thấy một hũ đường, vài lon sữa và mấy cái phin lọc bằng nhôm sáng bóng. Cạnh đó là cái bếp nhỏ vẫn có thanh củi đỏ lửa đủ để giữ nóng thường xuyên cái ấm nước bên trên. Quán ở ngay đầu đường có trạm xe buýt mà cách đó không xa là một ngôi đền thờ của người Ấn. Cô chủ quán là một người phụ nữ có tật ở chân thấy khách quen vội vàng bước đến tươi cười nói:” Hai cái đen hen?” Phiên chỉ vào Quảng rồi nói: “Không, thằng này quen uống sữa. Cho nó một ly bạc xỉu.”
Những giọt cà phê chảy xuống chưa dứt. Ngoài lề đường có hai cô gái chở nhau bằng một chiếc Honda cũ kỹ dừng lại. Quảng bỗng thấy Phiên đứng dậy và nhanh chân chạy đến nhập vào một đám đông đang bao quanh hai cô gái đó. Quảng chợt hiểu. Phiên cũng là người chuyên mua thuốc tây của những người nhận từ nước ngoài gửi về rồi bán lại kiếm lời. Một lúc sau, Phiên quay trở về bàn. Miệng cười túm tím, hất mặt nhìn Quảng rồi nói: “Mới dzô mánh!”
Mùa hè năm ấy đám sinh viên đã xôn xao về chiến tranh nổ ra ở phía Tây Nam bên Campuchia. Thế hệ của Quảng vào đời khi cuộc chiến khốc liệt 75 vừa đến và kết thúc và vì vừa đang học đại học nên chàng có chút may mắn chưa phải cầm súng ra trận như các thế hệ trước. Sau biến cố ấy những ngày đến giảng đường Quảng lại cảm thấy không khí trầm lắng và lặng buồn với những khuôn mặt còn lại. Dường như mỗi ngày lại được tin bạn bè vượt biển ra khỏi nước. Cuộc sống đã bắt đầu nặng nề với những ổ bánh mì, lon sữa được phát theo tiêu chuẩn hàng tháng. Chỉ khoảng hai năm là thời gian mà khi mở mắt mỗi buổi sáng thức dậy người ta không nghe, không thấy những tin tức và hình ảnh về những trận chiến xảy ra đêm qua trên mặt báo chí và các đài phát thanh như ngày nào mà thay vào đó là những bản nhạc đỏ chiến đấu còn vang vọng từ những ngày đầu tháng 4, 1975. Thời gian ngắn ngủi đó cộng thêm những thiếu thốn về vật chất và sự đè nặng của tinh thần ngày một trầm trọng làm cho người ta thèm cái cảm giác được được sống vào những thời yên bình của những thế hệ đi trước trong những “Ðêm thơm như mùi sữa, lũ chúng em êm đềm rủ nhau ra trước sân nhà…” của PD ngày nào. Những lớp đàn anh tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc, có người đã phải khoác màu áo chiến binh mới ra trận. Lại có những bạn bè, người quen đã đi mà không trở lại.
Trên tấm phản rộng kê ở góc nhà, cả bọn sinh viên co quắp nằm ngủ sau một ngày mệt nhọc vì phải đào những chiến hào, cắm chông ở biên giới Tây Ninh. Có tiếng đạn pháo kích ầm ì trong đêm từ xa vọng về. Quảng trở mình đổi tư thế cho dễ ngủ. Nhìn sang bên cạnh Phiên vẫn mở mắt thao láo nhìn lên mái tranh thấp che căn bếp mà người chủ nhà tốt bụng dành cho sinh viên ngủ tạm. Quảng nói: “Nhớ cô trung úy, phải không?” Phiên mỉm cười, đầu hơi gật gù: “Ừ, giờ này là giờ cô ấy đi làm về.”
Cô “trung úy” là vợ của một anh trung úy ở miền Nam. Sau biến cố 75, anh sĩ quan này phải đi học tập. Cô vợ ở nhà phải đi phụ bán cà phê mỗi ngày để kiếm sống. Mỗi tối vào khoảng gần nửa đêm, cô lại đạp xe về và đi ngang qua nhà Phiên. Họ quen nhau do tiếng đàn ghi ta của Phiên trong đêm réo rắt làm khơi dậy nỗi cô đơn trong lòng người cô phụ và từ đó thỉnh thoảng người trong xóm vẫn nghe tiếng đàn, hát từ căn nhà của cô ấy vang vọng trong đêm. Ánh mắt chợt thoáng buồn. Vẫn nhìn lên trên, Phiên nói:
-Chồng cô ấy sắp về.
-Vậy à?
Quảng nói nhỏ như chỉ đủ cho Phiên nghe. Như một chút trêu chọc, Quảng tiếp: “Có gì sâu đậm chưa?” Phiên liếc nhìn Quảng cười hà hà nhưng vẫn không giấu được nỗi buồn trong ánh mắt rồi nói thật nhẹ nhàng: “Chỉ mới sơ sơ ở ngoài thôi!” Quảng muốn cười thật lớn nhưng chàng kịp ngăn tiếng cười của mình lại. Có tiếng ngáy thật lớn của ai đó nằm phía bên kia cái phản làm chàng chợt nhận ra rằng đêm đã khuya.
Sáng hôm sau khi ra biên giới tiếp tục công việc mỗi ngày Quảng nghe kể về một con trâu của người dân đi lạc đạp phải mìn nổ tan xác đêm qua. Nghĩ đến cái chết của một người lính khi ra trận Quảng buộc miệng nói: “Con trâu này sẽ được phong tặng danh hiệu liệt sĩ.” Cả bọn sinh viên phá lên cười. Bỗng mọi người nghe tiếng Phiên nói lớn: “Mẹ nó, mười thằng liệt sĩ không bằng một thằng đi Mỹ!” Cả bọn quay lại nhìn về phía Phiên nhưng cũng chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên với những câu nói ấy của Phiên tặc. Quảng ra trường trước Phiên một năm và được phân về dạy ở một trường trung học.
Từ đó thỉnh thoảng Quảng mới có dịp gặp Phiên cho đến ngày được mời đi nhậu cùng với một vài người bạn cũ nhân dịp Phiên tốt nghiệp và được phân về làm việc ở một Ðoàn Ðịa Chất. Trận chiến ở biên giới Tây Nam ác liệt hơn bao giờ hết. Thanh niên trong lứa tuổi quân dịch được tập trung ra trận. Một ngày nọ, Quảng được tin Phiên xung phong nhập ngũ thay cho những đứa em trai đang ở vào lứa tuổi phải ra trận để những người này được ở lại để chăm sóc mẹ và các em nhỏ. Phiên được đưa sang Campuchia ít lâu sau đó và biệt tin. Một ngày nọ Quảng nhận được tin Phiên mất trong một trận chiến dữ dội trong đó Phiên tình nguyện rút đi sau cùng sau khi các đồng đội đã rút hết. Một trái đạn rơi ngay vào đồn đóng quân của Phiên và xác Phiên đã tan biến như xác con trâu đi lạc ngày nào.
Có tiếng còi xe ở phía sau. Quảng chợt nhận ra mình đang đứng ở giữa đường đất đỏ duy nhất còn lại. Hai chàng thanh niên lách qua chàng và ngoái đầu nhìn lại. Trời đã chạng vạng tối. Dòng người không còn đông. Quảng quay đầu xe để tiếp tục đoạn đường bỏ dở. Ðã mười lăm năm lưu lạc trên đất người và cuối cùng chàng đã chọn mảnh đất mơ ước trong tâm tưởng ngày xưa của Phiên làm quê hương thứ hai. Ðoạn đường vất vả ban đầu để hội nhập vào cuộc sống mới đã qua nhưng rồi kẻ trước, người sau ai cũng phải tiếp tục đi nốt đoạn đường của mình cho đến lúc chia tay với cuộc đời. Quảng nghĩ về những cuộc chia tay lần lượt với những người thân đã hy sinh trong cuộc chiến trước biến cố 75 và sau đó. Khi thời gian đủ dài trôi qua người ta vẫn tưởng rằng những cảm xúc đã tắt ngúm như những đốm lửa nhỏ nơi đầu những nén nhang thắp trong gió. Có ai ngờ. Dù ở đâu đi nữa vẫn còn một nén nhang âm ỉ cháy trong lòng người. Nén nhang ấy xin dành cho những số phận tuổi đời còn trẻ và dù có phản kháng hay không đi nữa cũng đều bị cuốn theo những cơn lốc của thời thế, đã phải nằm xuống cùng với bao nhiêu hoài bão, ước mơ vì những cuộc chiến tàn khốc và ác liệt.
Phiên ơi, khi đã thực sự là một “liệt sĩ” thì bạn lại không còn được chia sẻ kinh nghiệm của mình và so sánh với cuộc đời của một đang sống ở Mỹ nữa.
(Austin, ngày đầu Thu 2013)










