Tác giả: 35-120
Hắn có cái tên nghe rất quê mùa, rất đồng chua nước mặn: “Ốc.”
Ðã vậy mà thiên hạ còn ưu ái tặng cho hắn cái đuôi “Chảnh” đi kèm đàng sau tên cúng cơm. Thấy hắn ló mặt ở đâu là cứ nhè Ốc Chảnh mà réo, mà gọi.
Hắn uất ức ghê lắm! Nhiều lúc hắn muốn gào lên thật to để đính chính là hắn không hề chảnh hay chọe. Nhưng hắn biết càng cãi, càng phân bua thì càng làm cho tên của hắn nhiều người biết hơn.
Thật tình mà nói hắn là người có một cá tánh rất lạ, không ai giống hắn cả. Hình như hắn không vừa lòng với hầu hết các đồ vật thường dùng mà do con người tạo ra, cho nên thứ gì vào tay, hắn cũng mày mò chỉnh sửa cho đến khi nào hợp ý thì mới chịu. Có lẽ vì vậy người ta mới hiểu lầm là hắn chảnh chăng?

Hình minh họa. (Họa sĩ Nguyễn Thanh Vân/Người Việt)
Câu chuyện có thể bắt đầu từ chuyện quần chuyện áo, chuyện giày chuyện dép, vì với những chuyện như vậy được kể lại sau đây mới thấy rõ bản chất “chảnh” của hắn dữ dội như thế nào.
Sau cuộc đổi đời 1975, gia đình hắn cũng như nhiều gia đình khác đều tìm cách bỏ nước ra đi vì biết không thể nào sống được với chế độ mới. Tía má hắn bán tống bán tháo tất cả những gì còn có thể bán được, rồi cố gắng chắt mót gom góp để lo cho các con đi vượt biên được đứa nào hay đứa nấy, nhưng rất tiếc tiền bạc chỉ vừa đủ cho các người con lớn, nên hắn đành phải ở lại.
Ðang là đứa con út trong nhà, tự dưng được đôn lên làm người lớn nên hắn khoái lắm. Khoái vì hắn là đứa con trai độc nhất còn ở lại, được tự do quậy phá mà tía hắn có tiếng dữ đòn cũng đành thở dài làm ngơ, vì nếu lỡ động đến cậu quý tử thì hắn sẽ buồn sẽ tủi, sẽ trách móc phân bì với các anh hắn được đi Mỹ sung sướng, riêng hắn phải hy sinh ở lại chịu khổ chịu cực.
Ðược nuông chiều quá mức nên hắn sanh ra cái tánh quái đản là thích gì thì làm, không ai cản được.
Hắn nhớ mãi vào tháng mười năm đó trời mưa dầm dề lê thê lết thết hết ngày này qua ngày khác, mưa không dứt hạt, mưa như muốn thối cả đất. Hắn chỉ có hai bộ quần áo để đi học, bộ vừa thay ra phải giặt giũ ngay, nếu không sẽ thiếu quần áo thay đổi trong tuần.
Áo quần giặt xong vì thiếu nắng để phơi nên rất lâu khô.Nhìn má hắn lui cui bới bếp lửa để gắp từng cục than hồng bỏ vào chiếc bàn ủi con gà rồi cặm cụi ủi cho con, hắn thương má lắm. Nhưng ủi đồ ướt thì biết đến bao giờ mới khô cho được! Áo quần chưa kịp khô thì những giọt mồ hôi trên trán má hắn chắc đã khô trước rồi.
Hắn bèn lấy chiếc lồng kẽm dùng để nhốt gà úp lên trên lò lửa, rồi trải quần áo ướt lên hong, mặc dù má hắn đã nhắc chừng sẽ cháy. Quả không sai, qua ngày mai đến giờ đi học, cầm chiếc quần lên hắn hoảng hồn vì đàng sau mông đã hằn lên những vệt sạm đen hình mắt cáo của chiếc lồng gà bằng kẽm.
Lửa nóng chuyền qua dây kẽm làm cháy quần hay là việc không nghe lời mới xảy ra cớ sự?
Lỗi ở hắn rành rành, thế mà hắn vẫn nằm vạ cho bằng được. Hắn nhất quyết sẽ không đi học cho đến khi nào có quần áo khác. Má hắn đành phải đón chuyến xe sớm nhất trong ngày, lặn lội đi vô Nha Trang tìm mua đồ mới cho con vì sợ hắn bỏ học, trong lúc gạo trong nhà đã hết, chưa có tiền mua.
Thời gạo châu củi quế, chạy ăn hàng ngày đã là một việc khá vất vả, nay phải chi thêm một khoảng tiền vô cớ cho thằng con “ông Trời” thì phải biết nó thê thảm dường nào.
Tiền không đủ, má hắn đành mua về cho hắn một bộ quần áo công nhân màu xanh dương dày cộm. Sợ hắn mắc cỡ không chịu mặc, má hắn năn nỉ và hứa khi nào có đủ tiền sẽ sắm cho hắn bộ khác tươm tất hơn. Nhưng riêng hắn lại rất ưng ý,vì khi mặc sẽ không đụng hàng với bất cứ học sinh nào cùng trường. Học trò đi học mà “chơi” quần áo bảo hộ lao động, hỏi thử trên đời này còn có ai như hắn không!
Vài năm sau nhà hắn khá giả hơn đôi chút vì có quà cáp của anh hắn ở Mỹ gửi về. Má hắn nhín lại cho hắn vài xấp vải để may áo sơ mi và quần tây.
Chê ông thợ may ở làng là nhà quê may không đẹp, giữa trưa hè nắng chang chang, hắn hì hà hì hục đạp xe lên thị trấn, chọn tiệm nổi tiếng nhất để may quần áo cho mình. Ðến lúc ông chủ tiệm hỏi nên may như thế nào, hắn liền “vẽ kiểu” để may theo ý hắn thích. Chả biết hắn sáng chế ra kiểu quái quỷ gì mà cứ áo sơ mi thì phải dài tay, cầu vai, hai túi có nắp, và lai áo phải chét bo mới được.
Quần tây lúc đó đang là mốt ống loe, riêng hắn may ống túm cho lạ đời chơi. Ông chủ lắc đầu ngán ngẩm, nhưng hắn chuộng như vậy thì cũng đành chịu. Hắn mặc chứ có phải ông ta mặc đâu mà có ý kiến ý cò!
Bên cạnh tiệm may là tiệm đóng giày. Chúi mũi vô tủ gương nhìn những đôi giày mới đóng đẹp quá, dằn lòng không được hắn bậm gan đánh liều nhờ thợ đóng cho một đôi Xăm Bô, mốt thịnh hành bấy giờ. Xin nói lại cho rõ là hắn nhờ đóng kiểu đặt biệt chứ không phải mua, dù vẫn biết rằng mua sẽ rẻ hơn giày đặt đóng rất nhiều.
Vì là người có chiều cao khiêm tốn nên hắn thửa một đôi dép da cao gần một tấc, màu vàng nghệ, bảo đảm ai nhìn cũng phải liên tưởng tới hai cái đùi gà nấu cà ri liền tù tì… Tết năm đó trong làng có một tên tí tởn diện áo mới, mặc quần ống túm mang đôi dép da đi lênh khênh như kên kên mang guốc, mặt vác lên trời,và tất cả các thứ từ giày dép đến quần áo máng trên người đều trông rất dị hụ, bói khắp nước đố tìm ra người thứ hai. Chắc các bạn cũng đoán biết tên đó là ai rồi.
Giấy tờ bảo lãnh đi Mỹ gởi về. Mất gần ba năm hồ sơ xin đi đoàn tụ mới hoàn tất. Chỉ còn chờ ngày lên đường.Thời gian này là nỗi lo âu thấp thỏm trĩu nặng trong lòng tía hắn nhiều nhất.Vì sợ thằng con giở chứng, có bồ có bịch lung tung rồi đòi ở lại là kẹt cho cả gia đình. Hắn trấn an với tía hắn rằng dù có bồ nhưng sẽ không “bịch” ai cả. Cho kẹo cũng không dám bịch.
Người sắp xuất ngoại để đi Mỹ mà hành trang lên đường bèo quá thì xấu hổ lắm. Hắn nghĩ như vậy. Từ suy nghĩ đến hành động chỉ là một sát na. Hắn bèn vòi má hắn sắm cho hắn quần rin, áo rin và mũ cũng rin luôn cho nó tiệp màu. Ở quê thì bói đâu ra những thứ đó. Mà dù cho có đi nữa thì đào đâu ra đủ tiền để chi vào những món hàng cao cấp như vậy. Hắn buồn buồn trong lòng nhưng chưa kịp mở miệng, má hắn đã hứa là khi nào vào đến Sài Gòn sẽ cố gắng lo cho.
Trước hôm lên máy bay đâu chừng vài ngày, chờ bộ đồ vía hoài mà chưa thấy, hắn bắt đầu trở chứng, không thèm ăn không thèm nói. Mang bộ mặt đưa đám, cứ đến bữa cơm hắn leo lên sân thượng của khu chung cư, ngồi vắt vẻo trên lan can, mồm phì phèo điếu thuốc, mắt buồn rười rượi dõi về một phương trời xa xăm. Tía hắn sốt vó đi tìm, chợt trông thấy thằng con quái gở đang giở quẻ bày đặt hút thuốc lá, muốn dộng cho hắn một đạp văng tuốt xuống đường luôn cho rảnh nợ.
Cả gia đình đều phải tùy thuộc vào hắn, nên cũng cố “nuốt lệ làm vui” để khỏi lỡ dở công việc chung. Ðược thể hắn càng lên nước tợn.
Quần áo mũ mão cũng sắm xong. Chả lẽ mặc đồ xịn mà mang dép thì kỳ quá, hắn bèn “chơi” luôn đôi giày ngoại mắc gần một chỉ vàng. Cả Sài Gòn lúc đó người ta hầu như ai ai cũng ăn mặc đơn giản, áo bỏ ngoài quần, chân mang dép. Trong khi có tên phi líp lúa diện giày và tém thùng bảnh tỏn, chỉ cần nhìn sơ qua là biết hắn ở “dưới” lên liền.
Ðã vậy thôi đâu, hắn còn vòi vĩnh thêm cái đồng hồ Sin kô Phai Quạt (Seiko 5 Quazt) mặt sắt đen sì, hai cửa sổ, mười hai cột dạ quang ngồi chồm hổm, có hai chiếc kim vừa chạy vừa nấc cụt mới đủ bộ, không thèm chơi loại si ti zen có cái mặt màu vàng nhạt thường thấy ở cổ tay mọi người. Tầm thường lắm.
Ngày ấn định rời Việt Nam là 1 tây Tháng Giêng của năm đó. Nhưng khi được thông báo sẽ dời lại hai tuần, hắn mừng rơn, vội “tung cánh chim tìm về tổ ấm,” làm một chuyến đi ngược về quê chỉ với mục đích là khoe khoang những thứ hắn vừa mới sắm được, những món mà bạn bè hắn có mơ cũng không dám nghĩ tới.
Khi gặp lại bạn, cả đám đều trầm trồ sao trông hắn cứ như Việt kiều về thăm quê, làm hắn hỉnh cái mũi dài như thằng người gỗ Pinocchio.
Mới dung dăng dung dẻ ở dưới quê được vài ngày, điện tín từ Sài Gòn đánh về kêu hắn làm ơn làm phước nhảy xe lửa vô trình diện sớm chừng nào tốt chừng đó vì chuyến bay đã thay đổi, sẽ bay sớm hơn dự định. Hắn bùi ngùi vỗ vai từng đứa bạn,và trong lúc từ giã, hắn còn thòng thêm một câu: “Tao qua đó, tụi mày có cần gì thì thơ cho tao biết.”
Hắn nghĩ rằng tiền bạc ở xứ Mỹ là lá cây mặc sức lượm hay sao mà hứa một câu xanh rờn rợn như vậy.
Ðịnh cư và hội nhập vào nước Mỹ trong những năm đầu tiên đã làm hắn bở hơi tai vì vừa đi học vừa đi làm. Những ngày hoa mộng, làm vương làm tướng đã qua rồi. Ðang từ là một ông Trời con chuyển qua làm tên nô lệ cho trường cho lớp, cho công ăn việc làm, hắn rớt giá một cách thê thảm. Nhưng cái thói rởm đời vẫn còn chảy trong máu. Sinh viên đi học chỉ mặc đơn giản quần Jean với áo thun, sau lưng đeo backpack. Hắn không thèm giống người ta chi cho mệt. (Tại sao phải giống người ta mà người ta không giống hắn? Lối suy nghĩ cù nhầy đó lúc nào cũng vương vấn trong đầu.)
Sách vở bỏ vào briefcase, quần trùm ra ngoài áo, chân mang giày da cứ thế mà đến lớp. Nhiều người nhìn vô rất ngạc nhiên tại sao trong lớp lại có đến hai ông giáo sư. Một ông đang đứng trên bục giảng, một ông ngồi há hốc miệng cứ như vịt nghe sấm, tiếng Mỹ vừa nói vừa rặn è è từng tiếng một.
Chỉ có khi đi chiên hăm bơ gơ cho McDonalds, chủ không cho ăn mặc tùy tiện nên hắn đành chịu phép. Những lúc ngọ nguậy trong bộ đồng phục, hắn chán và nản vô cùng. Xứ Mỹ tự do như vậy sao!
Quần áo ở Mỹ đa số là hàng được may sẵn. Giày dép cũng vậy, cứ lựa đôi nào vừa chân là mua, chứ không còn dịp được sắm sửa theo ý muốn. Ngậm ngùi hắn tiếc cho một thời đã trôi xa…
Tình cờ một ngày đẹp trời theo bạn xuống thăm Tiểu Sài Gòn, thủ đô tị nạn của người Việt, hắn mới bật ngửa. Nào là nhà may, tiệm đóng giày, hàng quán nhan nhản khắp mọi nơi, hắn ngỡ như đang hiện diện ở Sài Gòn hoa lệ của ngày nào.
Hắn mừng lắm. Bao nhiêu tiền dành dụm được, cùng với thằng bạn cũng “lúa” như hắn, cả hai nhảy vô tiệm giày để đóng cho mỗi đứa một đôi mà hắn gọi là “giày đi ăn giỗ.”
Ngồi chễm chệ trên ghế, nhìn ông chủ lăng xăng tiếp đón, hắn thấy đời có những lúc bỗng dưng đã gì đâu! Ngày còn ở dưới quê đến dép còn không có để mang, nói chi đến giày. Nay được tự do chọn kiểu, chọn màu cho chính đôi giày đóng theo yêu cầu ở một nơi cách xa quê hơn nửa vòng trái đất, thì còn gì sung sướng hơn. Ðòi thêm chỗ này một chút, bớt chỗ nọ một tẹo, hắn muốn đôi giày hắn thành hình ra sao ông chủ cũng chiều theo, miễn sao trả đúng giá tiền là được.
Theo đà tiến lên, hắn chui vô tiệm may bên kia đường, lựa lựa chọn chọn vải để may cho hắn hai chiếc quần tây theo mẫu mã ngày xưa từng mặc. Lạ một cái là hắn phải đặt cọc trước 50%, vì ông chủ mắc dịch sợ hắn đặt may mà “quên” lấy thì rách cả việc.
Sau một tuần chờ đợi, hắn háo hức mang đôi giày màu kem vừa mới đóng, móc bóp lôi $175.00, thời giá của năm 1991, ra trả mà không một chút tiếc nuối. Cộng luôn tiền công cho hai chiếc quần mới may, tất cả là $265.00. Số tiền dành dụm được sau những ngày đi làm thêm vô cùng khó nhọc đã vèo bay như lá thu rụng.
Về nhà, tắm táp sạch sẽ, hắn hí ha hí hửng lên đồ mới, xỏ chân vào đôi giày mới và bắt đầu bát phố. Nhưng không như hắn tưởng, một cảm giác khó chịu từ từ len đến. Tiếng kêu cồm cộp cồm cộp theo những bước đi tù túng trong chiếc quần chật bó như xoáy vào màng nhĩ, khiến thiên hạ cứ nhìn nhìn hắn với đôi mắt tò mò, không biết tên này từ hành tinh nào lạc đến mà có lối ăn mặc lạ lùng như muốn trêu ngươi người khác!
Tiu nghỉu như mèo bị cắt râu, hắn quay về nhà lôi nào giày nào quần quăng vào thùng rác một cách không thương tiếc. Nằm gác tay lên trán, hắn suy nghĩ lung lắm. Hắn không tiếc cho số tiền đã chi ra. Hắn chỉ tiếc cho sở thích rất ư là chướng mắt đối với mọi người nhưng lại rất tâm đắc của hắn đã mai một, không còn đất dụng võ. Cây quýt nhà quê nhà mùa đã ra trái chua lè nơi đất Mỹ mất rồi.
Hắn nhớ lại những giọt mồ hôi đọng trên trán má hắn. Nhớ lại chiếc thùng nhựa cũ kỹ nằm chõng chơ chờ gạo mua về. Nhớ lại ánh mắt thảng thốt của tía hắn khi thấy thằng con tập tành hút thuốc lá! Nhớ lại món nợ gia đình mấy năm sau mới trả hết vì đã chi ra khi mua nào quần, nào áo, nào đồng hồ nào giày dép mà lúc đó hắn nào hay nào biết.
Ngồi bật dậy, vói tay lấy cuốn album, hắn lặng lẽ nhìn lại những tấm hình hắn chụp trước rạp Rex, thấy cung cách đứng để chụp hình chân thì xỉa ra phía trước khoe đôi giày mới mua, tay cố tình cung ra cho thấy rõ chiếc đồng hồ mới tậu, hắn cười thầm mà nước mắt lặng lẽ chảy dài.
Mới hội nhập vào đời sống mới, văn hóa mới ở một đất nước mới có mấy năm mà hắn đã thay đổi đến thế sao! Nhờ vào khoảng thời gian mang giày mua, mặc quần áo mua mà hắn đã hiểu rõ rằng muốn thích nghi với đời sống mới thì phải hòa nhập vào lối sống văn minh hiện có. Nếu không thay đổi từ trong cách suy nghĩ thì sẽ tự đào thải mình.
Ðó là chìa khóa cho hắn có thể yên tâm trong đời sống mới, hy vọng để vươn lên và thành công trong tương lai.
Viết đến đây, chợt câu thơ của cụ Nguyễn Công Trứ mơ hồ trỗi lên từ trong trong vô thức: “Ðã sinh ra ở trong trời đất, sống phải có danh gì với núi sông.”
Ngậm ngùi hắn tự nhủ, danh giá gì thì còn hãnh diện, chứ mang danh Ốc Chảnh thì oải chè đậu quá!










