Vũ Nam
(Germany)
Ðối với người dân Sài Gòn từ những năm 1960 trở đi, mỗi khi muốn chọn một địa điểm thuộc miền biển để nghỉ mát cuối tuần, thì mục tiêu chắc chắn sẽ là Vũng Tàu, họa hoằn lắm mới là Long Hải. Trong khi đó, một nơi khác không xa Vũng Tàu bao nhiêu và sát nách Long Hải, cũng có biển, có núi và phong cảnh hữu tình, thì vì tình hình an ninh nên không được nhắc tới dần dần bị lãng quên. Ðó là địa danh Nước Ngọt.

Ðường đi Long Hải, Bà Rịa. (Hình: Internet)
Từ thị xã Bà Rịa đi về Long Hải, cứ con đường chính mà chạy, sau Long Hải, theo con đường nghiêng nghiêng về phía trái khoảng hai cây số, ta bắt đầu vào Nước Ngọt. Không biết địa danh này do đâu mà ra, có phải nơi đó có nước giếng ngọt lịm không?
Nước Ngọt là một ấp thuộc xã Long Hải, nằm dọc theo bờ biển, khoảng giữa hai xã Phước Hải và Long Hải, một thắng cảnh mà trong khoảng thời gian từ 1955 đến 1961, du khách từ Sài Gòn xuống tắm biển nghỉ mát rất đông đảo. Dân cư ở đây thưa thớt, một số bằng nghề vườn rẫy, một số buôn bán, còn lại làm nghề gác dan choc các villa.
Nước Ngọt chỉ có duy nhất một con đường tráng nhựa chạy ngang, nối liền hai xã Phước Hải và Long Hải, còn lại những con đường mòn, đường đá nhỏ dẫn chạy sâu vào các bìa rừng hoặc bãi tắm.
Sau Long Hải một rừng chồi khoảng hai cây số, ta bắt đầu vào đường đèo. Quang cảnh bây giờ bên phải là biển, bên trái là núi. Núi thì có đoạn sừng sững ngay bên đường. Những lúc xe qua đoạn đường này, quý vị tài xế rất ngán, vì chỉ rủi tay một chút xe có thể va vô đá núi, và chỉ cần chao tay lái một chút về phía phải là xe có thể lăn ùm xuống biển ngay. Mùa Hè, biển êm ru một màu xanh thẳm dịu dàng. Còn mùa Ðông, sóng dân cao đập vào bờ hoặc trên những tảng đá. Những đợt sóng to gần bằng mái nhà, đánh ầm ầm vào những tảng đá nằm dọc bờ biển nổi bọt trắng xóa.
Tiếp tục đi, ta sẽ gặp một vài quán nhỏ, đơn sơ dành cho du khách nằm dọc đường, cạnh biển. Ngoài những quán rải rác, đa số nằm dọc hai bên đường là những villa, được cất theo kiểu Tây trông rất đẹp. Có những cái được dân địa phương đặt tên: lầu Nóc Bằng, nhà Bánh Ít, Bánh Bao (vì trên đỉnh nhọn như bánh ít hoặc tròn tròn có khía như bánh bao). Những villa này là của các ông Tây bà đầm thời thuộc địa còn rơi rớt lại hoặc của những chức sắc thời Ðệ I Cộng Hòa như dân biểu Trương Vĩnh Lễ; Bác Sĩ Tín, giám đốc hãng dầu khuynh diệp; những thương gia giàu có như thầy ba, chủ tiệm thịt bò bảy món… Chung quanh villa là những cây bông sứ tím trắng hoặc vàng trắng, quanh năm tỏa hương ngào ngạt, xem lẫn vài cây phi lao cao chót vót, kêu vi vu mỗi khi có gió thổi nhẹ. Trước cổng là những giàn bông giấy sắc đỏ hoặc tím thẫm. Trong vườn thì trồng cây ăn trái như vú sữa, điều, mãng cầu, ổi, lựu…Xen kẽ là những khoảng đất rộng đầy dây hoa leo, hướng dương và những loại cây dại như cây sơn, cây cỏ tranh, tạo nên khung cảnh rất nên thơ nhưng không giấu được vẻ man dại, rừng rú.
Sau các đoạn đường đầy cây dại, du khách sẽ gặp những đoạn đường phủ đầy bóng mát của cây trôm (loại cây cho mủ ngâm ăn với đường cất rất mát). Tàn cây quanh năm che rợp, ánh mặt trời lọt vô rất ít nên đường ẩm ướt đầy hơi sương khiến có cảm giác gây gây lạnh. Thỉnh thoảng vài dòng suối nhỏ chạy ngang, nước trong vắt hoặc một cái bàu rộn gần nửa mẫu tây, đầy nước. Có những bàu ăn thông ra biển, cá lăng đi từng mé rất đông như ở cầu Tum, trẻ con cứ bỏ câu xuống là giật. Nếu bàu nào không ăn ra biển thì đầy những cua đồng, cá đồng. Chỉ cần một lần chài, chắc chắn sẽ có ngay nửa thùng thiếc cua đồng. Mỗi năm một lần, dân địa phương thường tháo nước từ bàu ra biển chặn bắt cá đồng như cá rô, cá trê…Rải rác đây đó có những ngôi miếu nhỏ như miếu Tiên Sư hoặc những ngôi chùa như Phước Thiện, tạo cho khung cảnh vẻ thiêng liêng, yên tĩnh, thoát tục. Nhưng cũng vì quá hoang vu, yên tĩnh nên Nước Ngọt có rất nhiều kỳ bí, ma cỏ do người địa phương truyền miệng.
Sau những bàu nước hoặc những khu rừng hoang vắng, du khách sẽ gặp những động cát trắng hai bên đường. Khoảng cát trắng mênh mông dẫn chạy sâu đến tận bìa rừng, chân núi. Nơi này, khoảng trước năm 1960 chính phủ VNCH đã cho nhiều hãng phim ngoại quốc đến mướn để quay phim.
Suốt đoạn đường xuyên ấp Nước Ngọt, bên phải là biển, bên trái là rừng núi. Trên dãy núi này – núi Kỳ Vân – có nhiều chùa, hoặc tên thơ mộng như Bồng Lai, Ngọc Tuyền, hoặc tên chơn chất như chùa Cây Khế, chùa Bà Hai Luông, chùa Hòn Một…Từ dưới đường trông lên, những ngôi chùa này như những chấm trắng nhỏ. Có chùa nằm cạnh dòng suối trong vắt như chùa Ngọc Tuyền, Bồng Lai. Có chùa xây cạnh những hang đá đồ sộ như chùa Hòn Một. Ðặc biệt chung quanh chùa đầy hoa trái, khách thập phương có thể hái ăn mà không phải trả tiền hoặc bị la rầy. Về gỗ thì vùng này không có nhiều gỗ quý như ở Trung Việt, chỉ có gõ non, bằng lăng, gò đen, cà na…Về thú thì có heo rừng, trăn, khỉ; ít thấy hoặc nghe đến voi, cọp, beo. Ðặc biệt, nơi đây có rất nhiều mai. Cận Tết, từng đoàn người lũ lượt đi chặt mai rừng về chưng. Lên càng cao trên núi mới có mai tốt, to và đẹp. Ðói bụng, khỏi lo nếu quên hoặc đem không đủ đồ ăn, bạn có thể vô ăn cơm “chùa.” Nước uống thì có nước trà hoặc các suối chảy quanh chùa. Và nếu gặp trái cây chín thì bạn cứ hái ăn thả giàn.
Từ trên núi cao nhìn xuống, con đường ngoằn ngoèo như con rắn đang chạy trên thảm cỏ xanh. Nhìn ra bờ biển, ghềnh đá hoặc xa hơn, những lượn sóng như những đường vân trên tấm lụa xanh với những con thuyền nhỏ li ti nằm yên trên mặt biển. Màu da trời và màu nước biển được cách ngăn bởi một đường kẽ nằm ngang mà hai đầu chạy xa ra mù tít. Từ đây, ta sẽ thấy lòng mình lâng lâng, thanh thoát, và thấy quê hương ta đẹp đẽ biết dường nào! Càng lên cao hoặc càng vô sâu trong vùng núi là những hang động chạy sâu trong lòng đất của Việt Cộng, nơi mà trong thời chiến tranh, Việt Cộng đã dùng làm căn cứ địa, chỗ dưỡng quân của tiểu đoàn dưới tên mật khu Minh Ðạm.
Trở về vùng biển, dọc theo những bờ cát trắng là những cây bàng gie ra cho đầy bóng mát. Lũ trẻ trong vùng trưa trưa thường tụ họp lượm trái chín hoặc tập hộp để ăn. Những cây dứa dại mọc lên từng bụi, không ai săn sóc ngày càng phát triển um tùm, những trái dứa già rụng vương vãi đầy đất. Thỉnh thoảng, dọc bờ biển nơi những mỏm đá, có những loại ốc như ốc vôi, cua và những con dòm xanh đóng từng mảng gọn gàng đẹp mắt.
Ngoài cá biển, tôm, cua, mực…, mà vùng biển nào cũng có, Nước Ngọt còn có trứng vích (một loại rùa biển lớn). Trứng vích vừa được lấy trong đêm, mới toanh, luộc lên ăn nóng hổi. Ngao, chan chan, chem chép cũng rất nhiều. Chiều chiều, cầm theo một cái túi xuống biển, lấy tay hoặc chân đào vài cái ao nho nhỏ,gần nơi sóng nước đập vào, bạn sẽ thấy hiện lên rất nhiều ngao, chan chan, chem chép, mặc sức mà bắt. Mấy thứ này mà xào phi hành tiêu ăn với cơm nóng thì không còn gì bằng.
Ðến nghỉ mát ở đây, bạn sẽ ngạc nhiên vì lũ còng gió. Chiều chiều đi tản bộ dọc theo bờ biển, xa xa bạn sẽ thấy như cả một nền nhà màu xám di động. Từ từ đến gần, cái nền nhà lúc biến hình này lúc biến hình kia. Ðến thật gần thì cái nền nhà rã tan ra trong chớp mắt. Những anh chị còng chạy tan tác! Kẻ lên non, người xuống biển. Nhưng đằng nào cũng bị bạn thọp cổ vì lên bãi cát dốc xoai xoải, các anh chị cứ nằm trợt lên trợt xuống chịu trận, chờ bị bắt; các anh chị xuống biển cũng không thể chạy tuốt xuống biển như cua, đành phải nằm trên bờ dật dờ chịu sóng đánh. Bạn cứ đợi từng đợt nước rút mà bắt cả bao, cả thùng. Có còng rồi, bạn có thể làm còng nướng, còng luộc, còng xào, còng chiên bơ tùy ý. Nếu xách về hoặc vô quán với két la-de thì không gì tuyệt hơn.
Dọc bờ biển, trời Hè, ngày cuối tuần rất đông khách: các ông Tây, bà đầm mặc bikini, mang kiếng mát nằm phơi đầy bãi. Các cô cậu du khách từ Sài gòn hoặc những vùng khác; các đoàn thể đến cấm trại…,làm khung cảnh biển cuối tuần ồn ào, sinh động hẳn lên, không như trong tuần vắng vẻ đìu hiu.
Gần bờ biển có một chiếc tàu sắt bị chìm từ thời Pháp thuộc đang dần dần tan rã. Không ai rõ tông tích chiếc tàu này. Nơi đây cũng xảy ra nhiều tai nạn chết người. Chung quanh tàu có nhiều loại cá ẩn núp nên các du khách sành câu hay lên tàu lúc nước ròng (nước cạn). Họ thường dẫn theo các cậu bé, con hoặc cháu. Khi nước lớn, lo đem cá, cần câu vô bờ trước. Lúc muốn trở ra rước con cháu thì nước đã ngập đầu, không biết lội, đành phải chạy về quán kêu người tiếp cứu. Ðến nơi thì đã trễ, nước ngập gần hết con tàu và cậu bé đã buôn tay chết trôi tự lúc nào! Nước biển ở đây lên xuống rất lẹ nên dễ xảy ra những chuyện chết oan ức.
Từ năm 1960, khi chiến tranh bùng nổ trở lại , Nước Ngọt bắt đầu mất an ninh. Thời gian ấy, Việt Cộng chiếm đóng Nước Ngọt. Ban ngày họ giao tranh với những toán Bảo An từ xã Long Hải, ban đêm họ từ trên núi xuống bắt những người tham gia chính quyền. Du khách, xe đò qua lại thường bị du kích chận bắt, tịch thu đồ đạc. Vì thế Nước Ngọt ngày càng vắng vẻ, du khách hết giám vãng lai, dân cư dần dà tản mát đi nơi khác. Khoảng năm 1961, chính phủ quốc gia ra lệnh cho dân chúng tản cư khỏi vùng này. Sau đó không lâu, nhiều tàu chiến hải quân đậu ngoài khơi đã nã đại bác vào bờ bắn sập các biệt thự, chùa chiền, nhà cửa…, những nơi mà Việt Cộng có thể ẩn núp. Khoảng 50 biệt thự, 30 ngôi chùa to lớn đẹp đẽ đã trở thành đống gạch vụng. Sau những ngày tan hoang đó, dân nghèo ở các vùng lân cận thỉnh thoảng lén lút gồng gánh, bò xe đến trộm các loại đá quý, gỗ đẹp về làm nhà, buôn bán mưu sinh. Rồi cũng sau ngày tàu bắn không lâu, một lần nữa buổi chiều đó rực lên màu lửa. Sau ba lần rải bom, núi Kỳ Vân chỉ còn lại những tảng đá trắng trồi lên xơ xác, cây cối bị đốn ngả nghiêng, dãy núi xanh nay đã biến thành xám úa.
Nhiều loại cá sống gần bờ biển chết tức vì hơi bom trôi rất nhiều vào bờ.
Ðến năm 1973, khi Hiệp Ðịnh Ba Lê được ký kết, dân nhiều nơi đã đổ về cất nhà cửa, vườn tược, khai khẩn đất hoang. Các thương gia giàu có ở Sài Gòn trở về thăm vườn đất, mong gây dựng lại như ban đầu. Nhưng hy vọng ấy không bao lâu đã bị dập tắt vì hòa bình vẫn không được tái lập mà chiến tranh còn trở nên khốc liệt hơn đưa đến hậu quả sau cùng là năm 1975!
Sau năm 75, hầu như không có ai về Nước Ngọt để kiến thiết lại! Sau ngày này, thỉnh thoảng tôi có dịp chạy xe ngang Nước Ngọt, nhìn hai bên đường tan hoang trơ trọi, cây cỏ xác xơ. Cả một dãy núi chỉ còn cheo leo những cây nhỏ, chơ vơ không đủ lá. Cả một đoạn đường không một nóc nhà; những biệt thự, ngôi chùa, ngọn miếu giờ chỉ còn là những đống đất nhô cao, cỏ mọc xen kẽ xanh um; con đường đầy lỗ hang, cầu cống xiêu vẹo, khách đi đường phải bắt tạm những thân cây, tấm sắt để đi qua. Thỉnh thoảng vài căn nhà lá mới cất vội vàng, nghèo khó; đôi khi bắt gặp người mẹ bồng con đứng cạnh bờ rào, nét mặt âu lo buồn bã lúc trời chạng vạng. Nước Ngọt chưa ai dám về, chính quyền chưa tu bổ lại!
Tôi trở về đây sau ngày chấm dứt chiến tranh, đi suốt đoạn đường để nhìn lại, hoài niệm vùng đất nhỏ bé, đẹp đẽ xưa kia, của hơn mười lăm năm trước tôi đã trải dài đời sống trẻ thơ: trưa Hè tắm biển, bắt ốc, bắt còng…Thứ Bảy cuối tuần, với lũ bạn vào rừng bắt chim, hốt ổ lấy trứng; leo cây hái trái , lội dọc theo những con suối, hứng tắm những dòng nước mát của thiên nhiên hoặc chơi trò bắn sung, hái sung liệng nhau, miệng huýt sáo âm vang cả rừng rú…
Nước Ngọt, quê hương không còn được như xưa, bởi thế những khi quay quắt nhớ, tôi muôn viết về nó, thật nhiều; viết để thấy quê hương ta nơi nào cũng đẹp, viết để gợi nhớ, để khắc ghi và viết với lòng tin tưởng một ngày mai xán lạn cho quê hương.

















































































