Trân Văn/Người Việt
Tuần rồi, có hai lần ông Tô Lâm, tổng bí thư đảng CSVN, đề cập đến “chủ nghĩa xã hội” (CNXH). Lần thứ nhất, ông tiết lộ đã từng gợi ý, nhắc ban thường vụ của Thành Ủy Hà Nội về việc xây dựng “xã, phường xã hội chủ nghĩa (XHCN)” ở thủ đô. Lần thứ hai, ông yêu cầu phải đẩy mạnh việc xây dựng CNXH tại Việt Nam để kết thúc thời kỳ quá độ vào năm 2045.

Nếu đem nội dung tuyên truyền của đảng CSVN về CNXH trong bảy thập niên đối chiếu với thực tế như đã biết và đang thấy, tự nhiên sẽ nhận ra công cuộc xây dựng CNXH (thời kỳ quá độ) không đơn thuần chỉ là ngụy biện để duy trì, củng cố quyền lực theo hướng độc đoán, tàn nhẫn mà còn là sự trâng tráo không có giới hạn.
***
Trước nay, đảng CSVN vẫn khăng khăng khẳng định, CNXH là con đường duy nhất có thể đem lại độc lập cho xứ sở cũng như ấm no, hạnh phúc cho nhân dân và chỉ đảng CSVN mới có thể dẫn dắt Việt Nam đạt được mục tiêu, bởi họ là liên minh duy nhất của các tầng lớp lao động bảo đảm quyền lực nhà nước sẽ luôn thuộc về nhân dân.
Đảng CSVN chưa bao giờ ngưng nghỉ trong việc đồng hóa tổ chức chính trị của họ với tổ quốc, dân tộc. Đồng nhất việc họ nắm, giữ quyền lực với lợi ích của nhà nước, phúc lợi cho nhân dân. Sự bất toàn của thể chế, những rủi ro, bất hạnh mà nhiều thế hệ chia nhau gánh chịu được xem như giá phải trả cho “thời kỳ quá độ!”
“Thời kỳ quá độ” đã bắt đầu từ 1954 ở miền Bắc và từ 1975 trên toàn Việt Nam. Sau 72 năm xây dựng CNXH, lần đầu tiên, thiên hạ nghe một đại biểu quốc hội (ĐBQH) rụt rè đề nghị: Công nhận người bán vé số là lao động tự do đặc thù, tạo điều kiện để họ tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện (thay họ trả một phần khoản phải đóng góp cho BHXH).
Bà Châu Quỳnh Dao, ĐBQH đưa ra đề nghị vừa kể, xem chuyện nhà nước trích ngân sách, các doanh nghiệp kinh doanh xổ số trích quỹ phúc lợi, trả thay một phần khoản phí BHXH mà những người bán vé số dạo phải nộp để họ có lương hưu khi “sức tàn, lực kiệt” là chuyện cần thiết để bảo đảm sự hài hòa về quyền lợi giữa các bên có liên quan.
Ở Việt Nam, những công ty xổ số kiến thiết (XSKT) được ví von là các cỗ máy in tiền cho chính quyền. Dẫu chỉ in vé số rồi bán nhưng doanh thu từ XSKT trên toàn Việt Nam đạt khoảng 150,000 tỷ/năm. Sau khi trừ các loại chi phí, tổng số tiền nộp cho ngân sách xấp xỉ 52,000 tỷ/năm. XSKT có lẽ là lĩnh vực duy nhất tăng trưởng ổn định, mức độ tăng trưởng dao động trong khoảng từ 8% đến 12%/năm. Ai tạo ra kết quả ấn tượng ấy? Hàng triệu cá nhân thuộc thành phần yếu thế: Trẻ mồ côi, con nhà nghèo, người tàn tật, người già không nơi nương tựa. Họ phơi nắng, đội mưa, lê la khắp nơi để mời chào khách mua vé số, ăn đói, mặc rách, gánh chịu tất cả rủi ro, kể cả hậu quả ế ấm và không được nhận gì khác ngoài khoản hoa hồng chừng 10% trong chuỗi giá trị.
Cứ nhìn vào cách phân chia chuỗi giá trị XSKT, tự nhiên sẽ nhận ra, nó được thiết kế để tối ưu hóa nguồn thu cho chính quyền (sau khi dành 50% cho trả thưởng, chính quyền hưởng 25%) và tối thiểu hóa chi phí trách nhiệm đối với những cá nhân do bần cùng mà đành tự nguyện làm công cụ cho hệ thống công quyền kiếm tiền thông qua phát hành XSKT.
Tuần rồi, ngoài chuyện ông Tô Lâm đề cập đến CNXH như đã kể, còn có kết quả thanh tra một số công ty XSKT. Theo đó, công ty XSKT Vĩnh Long dùng 41.6 tỷ mua bốn bất động sản ở TP.HCM, một số bỏ hoang, một số cho mượn không thu tiền thuê và bỏ cả bốn bất động sản này ngoài sổ sách về tài sản. Công ty XSKT Bến Tre chi 110 tỷ xây cao ốc mười tầng ở TP.HCM nhưng chỉ dùng bốn tầng, bỏ trống sáu tầng. Công ty XSKT Trà Vinh làm ngơ cho một “nhân viên” sử dụng đất trống xây nhà, làm vườn, khai thác hoa lợi suốt 25 năm, rồi dùng tiền thu được từ kinh doanh vé số xây dựng các sân tennis, pickleball mà chẳng cần bận tâm xem các quy định pháp luật liên quan đến sử dụng công quỹ, tài sản nhà nước thế nào.
***
Đảng CSVN tự nhận là đại diện liên minh công nông, bảo vệ người lao động, thành phần yếu thế không bị áp bức, đối xử bất công, bóc lột. Tuy nhiên, tuyên truyền kiểu nào cũng không thể che đậy được bản chất.
Sau năm thập niên họ nắm, giữ quyền lực trên toàn Việt Nam, hãy ngẫm nghĩ về vị thế, đời sống của công nhân, nông dân, thành phần yếu thế và cách đối xử với những người bán vé số dạo như vừa lược thuật chỉ là một trong các ví dụ về “thời kỳ quá độ,” về CNXH, về tổ chức chính trị dứt khoát không buông bỏ quyền lực, xét xem tổ chức chính ấy thật sự của ai, do ai, vì ai? Sau khi tự vắt kiệt mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu để đóng góp cho việc xây dựng CNXH người Việt đã nhận lại được những gì và còn muốn hy sinh cho “thời kỳ quá độ?” [kn]







































































