
Thưa O,
Thăng chọn tựa đề này để gởi gắm những nguồn cảm xúc, thương tiếc về O, mà không chút lo âu phạm thượng. Vì con người, đạo đức, sự nghiệp của O đã trở thành con người của cộng đồng xã hội, của Làng Bich La Đông, của Tộc Họ Lê Mậu —
Mấy hôm nay ở quê làng, khi được hung tin, O đã quy tiên, bà con làng, xóm Bích La, cư dân tộc họ Lê Mậu choáng váng, ngẩn ngơ, như một cơn ác mộng, hoài nghi và mơ ước không phải là hiện thực-để rồi bà con tìm lại những nguồn an ủi, chào xáo với nhau, hồi tưởng lại những kỷ niệm xưa, những lần O về thăm làng, những lời thăm hỏi chân tình.mộc mạc thân thương, kỷ niệm một thuở hàn vi, lam lũ trong cuộc sống cùng nhau.
Hôm nay, thong dong trên những nẻo đường làng, bà con có những cảm xúc đặc biệt với O, khi đi qua những công trình: Đình Làng Bich La Đông, Miếu Âm Hồn, Bia Tưởng Niệm, Cầu Bich La Đông,Lăng Mộ Ông Bà Ngài Khai khẩn, Nghĩa trang Bích La.v.v… đều có sự đóng góp chủ yếu của O.
Riêng bà con Tộc Họ Lê Mậu, từ các vị lão thành đến các trẻ thơ. học sinh, mọi người đều biết ngôi nhà Thờ Họ Lê Mậu nguy nga, tráng lệ có được hôm nay, xuất phát từ tư duy, suy nghỉ của
một thôn nữ Bich La – Bà Lê Mậu Thị Em –
O đã gom góp dành dụm bấy lâu, rồi vận động thêm với các cháu của gia đình Ông Lê Mậu Đáo, hỗ trợ toàn bộ công trình nhà thờ hơn mười lăm ngàn mỹ kim, được khánh thành vào năm 1997. Những công trình đó còn mãi với thời gian trong dòng sử sinh hoạt của Làng Bich La Đông – của tộc Họ Lê Mậu, tên tuổi của O, cũng gắn liền với những công trình ngàn năm,vĩnh cữu từ đó.
Sự nghiệp, những công trình cúng hiến to lớn như vậy, nên mấy hôm nay, từ các vị chức sắc của làng: Ông thôn trưởng, đến các vị trưởng tộc, hội cao niên, đến các chú bác trung niên, các thanh niên nam nữ, các thím, các O… tham dự các buổi họp liên tiếp ngày đêm để thành lập Ban Tang Lễ, nghênh đón linh cốt của O vê quê làng như O từng mơ ước lúc sinh tiền –, đứng đầu ban tang lễ là ông Lê Mậu Trải, trưởng tộc Họ Lê Mậu.
Thật là hiếm quý, có một tang lễ mà cả làng, cả một tộc họ, mọi người đều ưu ái chung tay, mỗi người mỗi việc, nhiệt tình, hưng phấn cùng với những cảm xúc thương tiếc, như muốn gởi đến O những ân tình mà O đã dành cho làng xóm và tộc họ trong những năm qua.
Thưa O, những suy nghĩ, nếp sống đạo đức, hiếu nghĩa với ông bà, cha mẹ, chia sẻ với tha nhân. Hành trình qua 100 năm cuộc đời, O đã thấm nhuần lời rao giảng của kinh Phật, nối tiếp với truyền thống đạo lý của gia tộc.
Nhớ lại một thuở xa xưa, những năm của thập niên 30, song thân của O, ông bà Lê Mậu Song được tuyển dụng phục vụ trong triều đình Huế, O có dịp hội nhập sinh hoạt, với thế hệ tuổi thơ của các nữ sinh khuê các tại kinh đô. Những tưởng rằng, cuộc sống của gia đình và riêng O có cơ hội chuyển mình từng bước, thăng hoa. Nhưng, sự kiện năm 1945, toàn dân kháng chiến chống Pháp, Vua Bảo Đại thoái vị, triều đình Huế giải thể, gia đình O về quê quán Làng Bich La lánh nạn.
Từ một tiểu thư mơ mộng tuổi đôi mươi,trở thành một thôn nữ, lam lũ trong đồng ruộng, nghiệt ngã gian nan, chân lấm tay bủn. O phải cật lực, làm việc hơn mọi người mới cân đối với sức lao động thuần túy trong làng. Hết mùa gieo mạ, gặt lúa,O tranh thủ đi buôn: làm xáo(xay lúa thành gạo đem chợ bán), gồng gánh lương thực từ đồng ruộng đến miền biển, miền sơn cước, trao đổi đặc sản để có thêm thu nhập, cưu mang đời sống cho gia đình.
Các anh theo phong trào kháng chiến chống Pháp, O chẳng khác một nam nhi, trở thành trụ cột của gia đình cấp dưỡng cha mẹ già bệnh hoạn và em thơ.
Thời buổi đó, bửa đói bữa no – bát cơm đầy ưu ái dành cho cha mẹ, bát cơm lưng thêm khoai, thêm sắn, rau cải, O cố nuốt vào lòng, để đắp đổi qua ngày mà có sức lao động cho ngày hôm sau. Đêm có 5 canh, O thức khuya dậy sớm, giấc ngủ vỏn vẹn còn 2 canh. Thế rồi khi cha mẹ quy tiên, ngoảnh mặt lại. thấy tuổi xuân thì của mình đã đi qua, giấc mơ tuổi trẻ đã chôn chặt từ đáy lòng qua năm tháng gian truân, khắc nghiệt. Tóc đã hoa râm, mình trở thành một phụ nữ ngũ tuần, giờ nào không hay biết.
Nhưng O ơi! Âu đó là số trời sắp đặt để O có điều kiện, trọn vẹn hiếu nghĩa với ông bà, cha mẹ và các em.
Là một Phật tử thuần thành, tuân theo lời Phật dạy: “Phụng sự chúng sinh là cúng dường Chư Phật.
Với đạo, với đời, hiếu nghĩa với tổ tiên, ông bà, hỷ xả với tha nhân. O đã nghiêm túc thực hiện như hoài bão và tâm nguyện của mình.
Ngày mai đây, khi O về làng, trên con đường xưa lối cũ, O có dịp chiêm ngưỡng những công trình mà O đã cống hiến và muôn vàn bàn tay, từ các vị lão thành, đến các trẻ học trò, giang rộng đón tiếp O, với vô vàn cảm xúc: Kính trọng, thương yêu, luyến tiếc. Vinh dự thay! Hạnh phúc thay!
Chúng cháu: Lê hữu Thăng & Diệp Kim Liên,..
________Người O hiếm quý của tôi.
Tôi không có ý định viết điếu văn, vì không chữ nghĩa lời lẽ nào có thể diễn đạt trọn vẹn về “Người O hiếm quý của tôi”, mà chỉ phác họa đơn sơ một số công hạnh của O mà mọi người trong gia đình, họ tộc, làng xóm ai ai cũng ngưỡng mộ.
Tên O trên giấy tờ Lê Thị Em, nhưng tôi thích cái tên trong gia phả Lê Mậu Thị Hải do Ông Nội của tôi để lại hơn, vì tâm O cũng như cuộc đời của O hy sinh cho gia đình, họ tộc rộng và sâu như biển.
O mở mắt chào đời cách đây một trăm năm (năm Bính Thìn 7 tháng 10 năm 1916), tại làng Bích La Đông quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, trong hoàn cảnh đất nước loạn lạc chiến tranh. Ông Nội và cả gia đình dời vào Huế sinh sống theo lời khuyên nhủ của nhạc phụ (Ngài Thượng Thư Bộ Lễ Lê Cảnh Trinh), và chính tại kinh đô này tài năng của những người con hậu duệ giòng thứ 14 (Lê Mậu) đã phát triển, thăng hoa (Kỹ sư Lê Mậu Cơ, Cử nhân, nhà toán học Lê Mậu Thành, O Lê Thị Thuận…) bên cạnh một nhân vật hiếm có khác cũng phát triển nhưng lại là gương của một người em gái cần cù, không đua dòi, một người chị gái kham nhẫn hy sinh tận tụy giúp mẹ chăm sóc các em, để các em chỉ biết học hành thành đạt. Có thể nói tất cả những bằng cấp học vị trong gia đình này, kể từ đời thứ 14, 15 rồi 16 đều đã có bàn tay đóng góp của O.
Nỗi vui sướng ngày Ba thành đạt, đi làm cho hãng Eiffel (1935), lập gia đình và con ra đời (1940) ngỡ rằng gia đình ta từ nay sẽ hanh thông hạnh phúc, đâu ngờ chỉ ba năm sau đó Ba đã bị tai nạn tử thương, chú Thành theo phong trào trí thức thanh niên cách mạng cứu quốc, một lần nữa O đã dang hai cánh tay tháo vát, can đảm chở che cho những đứa em, canh gác, cảnh báo, thu dấu tài liệu…trốn mật thám Tây lục nhà, không làm sao kể hết những giây phút nghẹt thở ở ngôi nhà bên bến đò Thừa Phủ của những năm tháng chống thực dân Pháp. Sự ra đi đột ngột của Ba, cộng với những lo lắng về hoạt động cách mạng hiểm nguy của chú Thành, như đã cướp đi tất cả tuệ kiến, năng lực và sức sống của Ông Nội. Thế là cả nhà lại dọn về làng cũ (1945) Con không thể nào quên được những vết bỏng trên hai bàn tay nho sinh của Ông Nội, mà suốt đời chỉ biết cầm bút, mà bây giờ phải cầm cuốc trồng khoai?
O lại phải gồng gánh, thức khuya dậy sớm, đầu chợ, cuối thôn, buôn bán nuôi gia đình, lên rừng đẳng gỗ, xuống biển chở hàng, xông pha không nề hà thân nhi nữ! Những lần bị Tây bắn rát, tưởng đã bỏ mạng ở Chợ Cạn, Cửa Tùng, hay những cảnh Tây Marốc quẳng trẻ em vào lửa trong khi chúng đốt nhà ta, thỉnh thoảng vẫn trở về như một cơn ác mộng…
Con còn nhớ như mới hôm qua, ngày O và O Thuận phủ đầy gánh gạo, dấu con trong thúng gạo, băng đồng trong cơn lạnh buốt thấu xương, chạy trốn lên tỉnh (1949), nếu không có đức hy sinh và tấm lòng hiếu hạnh của O, không biết giờ này gia đình ta sẽ ra sao?
Thế rồi giòng đời vẫn trôi, Chú Thành biền biệt phương xa, bôn ba hải ngoại theo đuổi con đường cách mạng dành độc lập cho đất nước, Ông Nội bị đọa đày… bao nhiêu khổ nhục nghèo đói lại trút hết lên hai vai gầy guộc của O, bôn ba chạy gạo nuôi Ôn Mệ. Ông Nội đã bị quật ngã trong cơn đói lạnh, thiếu thuốc men, không có cơ hội để nhìn thành quả độc lập của nước nhà (1954), rồi đến lượt Bà Nội cũng ra đi ngay khi con mới tốt nghiệp Quốc Gia Thương Mại (1961), chưa kịp tiếp tay với O phụng dưỡng Mệ già như hoài bão!
Nhưng Trời Phật vẫn còn thương gia đình ta, Con đã thành đạt, lập gia đình và có con cái để nối giõi tông đường như ước mong của Mệ. Làm sao quên được những giọt nước mắt nóng hổi của Mệ rơi trên trán con mỗi lần Mệ lên Chùa Thuyền Lữ, Đà Nẵng (1951-53) thăm con…những giọt nước mắt của Mệ như những giọt linh thủy cam lồ của Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát đã nuôi lớn đời con cho tận đến ngày nay.
Rồi O lại một lần nữa quẳng hết gia tài sự nghiệp ở Trung Lương Quảng Trị, “tất bật” vào Sàigon chỉ một bộ áo quần trên thân, khi cháu Lê Mậu Vũ chào đời (1963) Thật không có ngôn từ nào để có thể mô tả hình ảnh hy sinh tuyệt diệu này? CháuVũ nay đã 52 tuổi, là một vị lương y “như giấc mơ thầy thuốc” của Ông Cố, không những Vũ, Anh Đào và Minh Trí cũng đã kế thừa luân lưu giòng máu lương y của Ông Cố… và Nhân đã thể hiện giấc mơ Kỹ Sư của Ông Nội Lê Mậu Cơ, trong ba năm đã tốt nghiệp ba bằng kỹ sư ở một Đại học danh tiếng, Duke… Quốc Dũng cũng không thua kém các anh chị, là Cao Học, kỹ sư, với khả năng sáng tạo không hỗ danh hậu duệ của nhà toán học Lê Mậu. Con đã quyết chí noi theo gương và lời dạy bảo của Ông Nội để kế thừa và phát huy giòng tộc Lê Mậu. Với sự phù hộ hiển linh của Ba và Ông Nội, con đã vượt thắng bao thử thách, nghèo đói để vươn lên, nhưng nếu không có sự hỗ trợ của O chưa chắc gia đình con đã thành đạt như ngày nay. Con và các cháu luôn ghi tạc công đức của O. Ôn Mệ, Ba Con, Chú Thành, O Thuận nơi suối vàng có lẽ cũng rất sung sướng khi thấy O ra đi trong thanh thản trong vòng tay thương yêu đùm bọc của các cháu.
Nhìn hình ảnh ba đứa cháu bác sĩ đang chăm sóc Bà trên linh sàng để giúp Bà được thanh thản ra đi trong êm ả của tình thương gia tộc trong âm hưởng của lời kinh câu chú từ một tu viện cách hơn nửa vòng địa cầu, lòng Con rộn lên một cơn xúc động tuyệt diệu và niềm hãnh diện vô biên “tôi có được một người O hiếm quý tuyệt vời”.
Nguyện cầu giác linh O thảnh thơi vãng sanh miền Cực Lạc.
Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

