
TIỂU SỬ CỤ QUẢ PHỤ MỤC SƯ NGUYỄN XUÂN BA
nhũ danh NGUYỄN THỊ LẠI
(1915-2015)
Cụ quả phụ MS Nguyễn Xuân Ba nhũ danh Nguyễn Thị Lại, sinh năm 1915, là người thứ tư trong gia đình có 10 người con Bà tin Chúa vào khoảng năm 1930 cùng với gia đình, tại Hội Thánh Tam Kỳ. Từ khi mới tin Chúa, bà đã rất sốt sắng yêu mến Chúa. Bà rất ham học hỏi Lời Chúa, tham gia vào Ban Chứng Đạo, đi phát sách làm chứng cho đồng bào. Vào một dịp hội đồng bồi linh, được Thánh Linh cảm động bà đã hứa nguyện dâng đời mình cho Chúa, đi rao giảng Tin Lành.
Với tâm chí ấy, năm 1933 bà lập gia đình với thầy Nguyễn Xuân Ba là sinh viên Trường Kinh Thánh Đà Nẵng. Sau lễ thành hôn bà theo ông cùng vào học trường Kinh Thánh.
Suốt 45 năm kể từ ngày bước vào trường Kinh Thánh ông bà đã vâng lời Chúa đi từ vùng cao nguyên cực Bắc cho đến thủ phủ Sài Gòn ở miền Nam, từ miền rừng núi tây nguyên cho đến thị xã của miền Đông duyên hải, nơi nào ông bà cũng để lại kết quả tốt đẹp cho nhà Chúa và cảm tình sâu đậm nơi con cái Ngài.
Trừ những năm học tại trường Kinh Thánh, ông bà đã hầu việc Chúa sáu năm tại tỉnh Cao Bằng với Hội Thánh Nước Hai và Cao Bằng; hai năm tại tỉnh Quảng Ngãi với Hội Thánh Đức Phổ; hai mươi năm tại Quảng Nam với Hội Thánh Khánh Bình, Quế Sơn và Hội An; ba năm truyền giảng lưu động; ba năm tại Kontum; hai năm tại Vũng Tàu và sáu năm tại thành phố Sài Gòn với Hội Thánh Trương Minh Giảng. Hầu như bất cứ nơi nào ông bà đi đến cũng đều mở thêm Hội Thánh mới.
Bà là người tháo vác và nhiều sáng kiến. Trong những năm phục vụ Chúa ở các miền chiến tranh và nghèo thiếu, hội thánh không thể cung cấp tài chánh cho chức vụ, bà đã từng trồng trọt lúa, khoai, nuôi những đàn heo, dê, gà; làm bún tươi, bánh tráng và làm mạch nha để bán, dùng tiền lo cho gia đình, hầu ông bà có thể tiếp tục chức vụ và giúp đỡ những người nghèo khổ khác.
Bà rất thương người, sẵn sàng hy sinh, dâng hiến.
Năm 1942 khi nạn đói hoành hành tại miền Bắc, lúc đó ông bà đang hầu việc Chúa tại Hội Thánh Đức Phổ, một nơi đơn sơ, thiếu thốn. Nhưng khi Hội Đống Địa Hạt lạc quyên cứu trợ miền Bắc, bà đã dâng đôi bông tai kỷ niệm lễ cưới, là tất cả tài sản của bà lúc bấy giờ.
Sau tháng tư năm 1975, nhiều tín hữu và mục sư bị tù cải tạo. Tuy lúc ấy thực phẩm khan hiếm, vật giá đắt đỏ, nhưng bà vẫn chắt chiu dành dụm, nấu thức ăn gởi tiếp tế cho nhiều người có gia đình gặp khó khăn..
Những năm ở Mỹ bà thường xin quần áo còn tốt đóng gói gởi về giúp những gia đình nghèo khó. Khi bắt đầu lãnh tiền già, bà thường dâng vào các chương trình truyền giáo và Cơ Đốc giáo dục và giúp các sinh viên nghèo ở VN. Bà quyết định không về VN vì muốn dùng tiền vé để giúp những chương trình trên.
Trong dịp thượng thọ 90, bà đã dùng số tiền $10,000 do con cháu bạn bè tặng, dâng cho việc xây cất nhà thờ Khánh Bình, nơi bà rất nặng tình vì đã trải qua 12 năm gian lao của thời chiến tranh. Gần đây, Hội Thánh Thanh Lễ gây quỹ mua nhà thờ, bà đã dâng tất cả quà sinh nhật năm 96 tuổi, cùng với những nữ trang còn lại cho quỹ đó.
Bà luôn trung tín đến thờ phượng Chúa tại nhà thờ cho đến khi quá yếu mới chịu ở nhà. Khi còn khoẻ bà luôn cầu thay cho từng người bà biết, cho tất cả những cơ quan mục vụ, các Hội Thánh và các cháu chắt của bà. Bà thường mở CD Kinh Thánh để nghe, chỉ khi mất hẳn thính giác mới thôi. Khi trí nhớ cạn kiệt hoàn toàn bà vẫn còn đọc được Bài Cầu Nguyện Chúa Dạy hát Thánh Ca “Thi Thiên 23” và “Tôn Vinh Thay Chúa Cha.”
Đầu năm 2014, con cháu làm lễ mừng trước đại thọ bách niên của bà, bà vẫn có thể ngồi chụp hình với mọi người. Năm nay bà dần dần yếu hẳn. Vào lúc 6g30 chiều ngày 30-4-2015, giữa vòng gia quyến quây quần cầu nguyện tiển biệt, bà trút hơi thở cuối cùng, lìa con cháu và Hội Thánh thân yêu để về mãi mãi ở bên Chúa là Đấng bà yêu mến và phục vụ suốt cả cuộc đời. Bà ra đi thanh thản như chiếc lá đã xong nhiệm vụ làm đẹp đời sống, nhẹ nhàng lìa cành rơi về nơi cát bụi.
Thương Nhớ Mẹ
Hôm nay cũng là ngay lễ Mẹ, tôi xin chia xẻ ít lời tâm tình về Má tôi, một trong những bà mẹ điển hình của quê hương Việt Nam.
Bà có 8 đứa con, nhưng tình thương bà chan hòa cho tất cả, không bỏ sót đứa nào. Có một vài kỷ niệm tôi vẫn còn nhớ. Hồi 6, 7 tuổi tôi chơi đùa vọc ớt, vô tình giụi mắt làm mắt cay như xé. Tôi la khóc. Bà ôm tôi vào lòng, xỏa mái tóc dài đen của bà ra thoa lên mắt tôi, chẳng có thuốc men gì cả. Lạ thay, dầu dừa xức tóc trong bàn tay yêu thương của mẹ, đã trở thành món thuốc hiệu nghiệm làm dịu ngay cơn đau rát trong mắt tôi. -Có lần bà nấu cháo gà cho 4 đứa con nhỏ ăn. Bà ngồi nhai xương gà hút tủy rồi khen: ‘Tủy xương gà ngon thật.’ Thế là mấy đứa gắp hết xương bỏ vào bát mẹ. Bà nói: Mấy đứa con hiếu thảo thật, chúng ăn hết thịt còn để dành xương cho mẹ! Chúng tôi lại moi bát tìm thịt đưa cho bà, nhưng bà bảo: Thôi ăn đi, má ăn thế nầy được rồi! Và bà tiếp tục gặm những miếng thịt còn dính trong xương.
Má tôi sinh trong gia đình nghèo đông con, nên được học rất ít. Nhưng bà thông minh, tiếp thu rất nhanh. Chút vốn kiến thức nhỏ bé đã được bà khéo léo vận dụng để giúp bà thích ứng với mọi hoàn cảnh trong đời. Bà phụ trách dạy Trường Chúa Nhật cho lớp các bà, nhưng có lúc ông đi vắng, bà cũng mạnh dạn đứng trước hàng ghế giảng dạy cho hội chúng. Năm 1952, bà len lỏi đưa tôi về thành phố để tìm cách cho tôi đi học vì vùng Khánh Bình không có trường. Bà đã đến làm chứng tại Trường Kinh Thánh và mở đầu bằng câu: “Nếu tôi nín lặng thì đá sẽ kêu lên”. Mục Sư Lê khắc Tuyển lúc ấy là sinh viên tốt nghiệp đến bảo tôi: “Bà ăn nói hay lắm”.
Trong hoàn cảnh chiến tranh, bị cô lập, con đông, Hội Thánh nghèo nàn, ông bà xoay xở đủ cách để nuôi bầy con. Lúc ấy, bà chỉ học qua truyền miệng thôi, nhưng có thể làm đủ thứ bánh bèo, bánh đúc, bánh tráng, bún, về sau lại có thêm mạch nha. Gian bếp độ 3, 40 m2 chứa đủ thứ: cối xay lúa, cối giã gạo, cối xay bột, thùng ngâm bột, nồi hấp, chảo tráng bánh tráng, nồi lớn luộc bún.v.v. Tôi thích nhất là bún tươi nóng trong lò ra, chan nước mắm tỏi ớt ăn thật tuyệt. Bây giờ không thể nào tìm thấy loại bún ấy ở đây. Bà cũng nuôi mấy con heo, cứ cuối năm kêu bán và làm thịt để tổ chức Noel. Ngoài ra cũng có một chuồng gà và một bầy dê 4,5 con. Bà biết đan móc, nên tự tay đan áo ấm cho các con. Có khi bà lãnh con cúi ở xưởng dệt về kéo chỉ để ăn công. Nhờ bà siêng năng tháo vác, nên dù hoàn cảnh thiếu thốn đủ mọi thứ, chúng tôi vẫn không đến nỗi quá cơ cực.
Má tôi là một phụ nữ can đảm. Hồi ở Cao Bằng, bà chỉ trên dưới 20 tuổi, đang lúc Đệ Nhị Thế Chiến, các giáo sĩ bị hạn chế không được đi xa. Họ nhờ bà qua bên Tàu mua giùm bột mì đề về làm bánh mì. Đường đến Trùng Khánh xa cả 100 cây số, nguy hiểm, lại không có phương tiện chuyên chở công cộng. Thế mà bà dám một mình đạp xe qua tận Trùng Khánh để mua bột mì chở về. Nửa đường, khi xe lao dốc thì bị đứt thắng, nhưng Chúa đã can thiệp cứu bà thoát chết trong gang tấc.
Năm bà đưa tôi về thành phố, khi trở về bà xin được 2 thùng sách chứng đạo, gánh về định để phát cho đồng bào trong dịp Noel. Theo chỉ dẫn của các con cái Chúa, bà gánh sách đến bờ sông Thu Bồn, chỉ cần qua đò là trở vào vùng Việt Minh, không còn sợ bị bắn nữa. Nhưng khi đến bờ sông, trời đã chạng vạng, lái đò đã về nghỉ. Thấy sông cạn, bà quyết định gánh sách lội qua sông, lúc ấy thủy triều sắp lên mà bà không biết. Khi đến giữa sông thì nước dâng lên đến lưng. Tiến thoái lưỡng nan, bà chỉ biết kêu cứu với Chúa. Lạ thay, nước rút dần xuống đến ống quyển, bà có thể qua sông dễ dàng và tiếp tục hành trình.
Sau năm 1975, bà đã từng đấu lý với cán bộ. Lúc ấy ba tôi vắng nhà. Má tôi đang ở nhà thì có 3 cán bộ tới muốn gặp Mục Sư. Bà nói ông đi vắng và hỏi họ cần gì. Họ bảo chúng tôi muốn mượn nhà thờ làm điểm hội họp dân phố. Bà bảo họ: “Chúng tôi hầu việc Chúa từ thời Pháp thuộc, đến Bảo Đại, qua Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu, mà chúng tôi chưa thấy một chính quyền nào mượn nhà thờ làm chỗ hội họp cả. Nay theo tôi biết, chính quyền ta cũng tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôi e quí vị làm như vậy là sai chính sách nhà nước. Tôi sẽ nói lại với Mục Sư, nhưng xin quí vị biết cho rằng, Mục Sư không có quyền quyết định mà phải đưa ra Ban Trị Sự bàn thảo, rồi lại đưa ra hội đồng toàn thể Hội Thánh thảo luận biều quyết đồng ý mới được.” Họ chào ra về rồi sau đó không trở lại nữa.
Bà cũng có tầm nhìn xa. Sau khi ba tôi qua đời, bà biết được chủ căn phố bên cạnh nhà thờ muốn bán rẻ để đi ngoại quốc. Bà giục Ban Trị Sự cổ động lạc quyên mua để nới rộng nhà thờ, vì người ta chỉ đòi có 9 lượng vàng, là một dịp không thể nào có lần thứ hai. Nhưng vì hoàn cảnh bất an khó khăn của Hội Thánh và các gia đình lúc bấy giờ, không ai dám đứng ra hô hào và đã bỏ lỡ mất cơ hội.
Bà cũng là người rộng rãi, ưa cho, ưa dâng hiến. Trải qua bao gian truân, bà trải nghiệm sự cung ứng của Đức Chúa Trời, nên không bao giờ muốn giữ tiền bạc cho mình mà luôn luôn ban phát. Đó cũng là lý do khiến bà muốn những người thương yêu bà cũng góp phần dâng hiến khi tưởng niệm bà, thay vì tưởng nhớ bằng những tràng hoa rất mau héo tàn.
Thưa má, chúng con nguyện luôn luôn noi theo gương má dẫn dắt con cháu trên con đường kính Chúa yêu người. Nguyện xin má được an vui mãi mãi bên cạnh Chúa Hằng Sống. Hẹn gặp lại má trong nước Chúa.

