Sổ tay phóng viên
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER, Calif. (NV) – Như có lần đâu đó tôi đã nói, khi một điều gì xảy ra, tôi bị choáng với nó, ngay tức thì, thì tôi sẽ cố không viết ra, bởi tôi sợ những chủ quan mà mình không kiềm chế được. Tuy nhiên, nếu vài ngày trôi qua, mà nỗi ám ảnh về sự kiện đó vẫn lẩn quẩn trong đầu, thì có nghĩa là, tôi phải viết ra, như một kiểu giải tỏa, dù rằng, chuyện này lại có thể làm ảnh hưởng hay gây nên những ngộ nhận.
Câu chuyện tôi sắp kể ra đây có thể nhiều người đã từng nghe, hoặc bản thân mình cũng đã từng là thành viên tham dự vào, nhưng vì lý do “bí ẩn” nào đó, mà không ai dám mạnh dạn kể ra (sợ quả báo chăng? Tôi không biết) Thôi thì, theo tinh thần của nhà thơ Du Tử Lê – “Đi với về cùng một nghĩa như nhau” – nên với tôi “thiên đàng hay địa ngục đều cùng nghĩa tôi ‘die’”, nên để tôi kể.

Hình minh họa: Ngọc Lan/Người Việt
Một vị thầy tu đã ngoài tuổi 70, thoạt đầu ông sống trong một “đạo tràng” nhỏ thôi và cũ kỹ.
Mọi người đồn là ông thầy thuyết pháp, giảng hay lắm lắm nên người ta kéo đến đạo tràng của thầy mỗi ngày một đông. Có lúc lên đến cả trăm người. Chật cứng.
Thế là một hôm, cách đây chừng hơn 3 năm, ông thầy bỏ nhỏ với vài Phật tử thân thiết là “Thầy muốn có một đạo tràng lớn hơn để có nơi cho Phật tử tu tập.”
“Ý sư phụ là ý trời. Cha mẹ nhiều khi muốn còn không được chứ sư phụ muốn gì là có đó”. Phật tử nói vậy, và đứng ra kêu gọi sự “phát tâm” của mọi người. Người 10 ngàn, người 20 ngàn, người 30 chục ngàn, và người nhiều nhất không ngần ngại “phát tâm” ký ngay cái check $185,000 để có thể kiếm được cho thầy cái đạo tràng nào coi được chút.
Cất công tìm kiếm, sau cùng Phật tử cũng mua được cho sư phụ một đạo tràng đẹp như mơ, rộng cả 5 mẫu tây, nơi rất thích hợp cho sự tĩnh tâm lòng hướng về nước Phật, với giá khá hời chỉ đâu hơn 400 ngàn (nhưng thời giá bây giờ với những tu bổ thêm vào thì đạo tràng trị giá cũng bạc triệu).
Đạo tràng lớn, khang trang, rộng rãi nên có một số Phật tử lớn tuổi, muốn thoát khỏi sự lụy phiền của trần thế (nói “của con cháu” thì đúng hơn) nên dọn đến ở luôn tại đây để lòng hướng Phật tụng kinh sớm tối, mong đến hồi vãng sanh sẽ được Phật nắm tay dắt đi cho lẹ. (Mà những người dọn đến ở cũng đều là những người có đóng góp trong việc mua đạo tràng này chứ không phải khơi khơi mà được vào tá túc).
Được dăm ba tháng, ông thầy nói muốn về Việt Nam làm từ thiện. Phật tử lại hoan hỉ đứng ra kêu gọi sự phát tâm, gom góp lại được đâu cả 60 ngàn đô, cùng ông thầy về quê hương làm việc nghĩa.
Về đến quê nhà, ông thầy giới thiệu các Phật tử với một nữ cư sĩ ở độ tuổi 40, bảo đưa tiền cho nữ cư sĩ đó, rồi bàn chuyện mua sắm những món gì để mang đi “từ thiện.”
Tên nữ cư sĩ này thì Phật tử nơi đạo tràng của ông thầy không lạ, bởi họ đã phải mua không biết bao nhiêu là thẻ điện thoại để cho ông thầy gọi về cho nữ này mỗi tối, mà có hôm, giữa khuya, thầy đang gọi, hết thẻ, thầy buộc phải tìm ra thẻ cho thầy gọi ngay lập tức. Phật tử luôn tin chắc rằng ông thầy gọi về để thuyết pháp từ xa.
Tuy nhiên, trong lần hội ngộ này, nhiều Phật tử ngỡ ngàng, bởi họ nhận ra ngay lập tức giữa ông thầy và nữ cư sĩ này không chỉ đơn giản là mối quan hệ giữa Phật tử và sư phụ. Mà là một mối quan hệ “trên mức tình cảm”. “Làm sao mà biết?” – Tôi hỏi.
“Trời ơi, feelings cho chúng tôi biết. Chỉ nhìn cử chỉ, cách nói năng là sẽ hiểu ngay điều gì.” Những Phật tử ở tuổi có cháu nội, ngoại nói với tôi như vậy.
Toàn bộ số tiền gom góp mang về, theo lời ông thầy, Phật tử từ Mỹ phải đưa hết cho nữ cư sĩ kia. Để rồi sau đó, họ cảm thấy quá uất ức khi thấy tiền được đưa đi “từ thiện” chỉ hết khoảng một nửa, còn lại vẫn ở trong bóp của nữ kia. Ức nhưng nể ông thầy nên họ chỉ dám rón rén nói cho ông thầy nghe điều họ bất bình, nhưng ông thầy lại làm lơ.
Ức, tức, và cả thất vọng về ông thầy mà mình tôn sùng bởi những “khám phá” bất ngờ, nhiều Phật tử thân tín đã lẳng lặng rút lui, không lui tới đạo tràng nữa.
Phật tử nào còn tôn thờ ông thầy thì vẫn chu cấp đầy đủ những gì ông thầy đòi hỏi, dĩ nhiên cả chuyện luôn phải có thẻ điện thoại cho thầy gọi về Việt Nam cho nữ cư sĩ.
Cho đến cách đây hơn một năm, sau một tuần chay thất gì đó, có một ni cô ngoài 45 tuổi, không ai rõ từ nơi nào đến, đã tự động ở lại hẳn trong đạo tràng – điều mà các Phật tử cho rằng là sai với giáo điều nhà Phật, vì nơi tăng trụ trì thì chỉ có tăng ở, không thể có ni vô ở chung được.
Vậy mà ni cô này cứ ở lì ra đó.
Rồi thì những Phật tử sống tại đạo tràng khám phá ra một sự thật động trời là tối tối ni cô lại đi xuống nơi ở của riêng ông thầy!
Một người thấy, hai người thấy, ba người thấy, và nhiều người thấy. Những ai nhìn thấy sự thật oái ăm và lên tiếng thắc mắc thì sau đó cũng đều lặng lẽ rời khỏi đạo tràng, trở lại chốn nhà mình. “Sư phụ không nói tiếng đuổi, nhưng những lời sư phụ nói rất khó nghe, mà chúng tôi đều là người già cả rồi, chúng tôi có lòng tự trọng của mình.” Vậy là họ lần lượt ra đi.

Hình minh họa: Ngọc Lan/Người Việt
Cho đến ngày, trong đạo tràng chỉ còn lại có ông thầy, nữ ni cô và một thầy phó trụ trì.
Không biết ông thầy nói bóng gió xa gần gì đó, mà thầy phó trụ trì cũng ngầm hiểu là ông thầy muốn mình biến luôn. Thế là ông thầy phó gọi điện thoại thông báo cho những Phật tử từng một thời tin cẩn để tìm xem có cách nào giải quyết.
Phật tử như choàng tỉnh, ngộ ra một điều là quyết không để ông thầy tiếp tục sa ngã. Thế là họ lại rủ nhau kéo về lại đạo tràng tìm cách giành lại những gì những tưởng rằng sắp mất.
Một mặt họ chất vấn ông thầy. Một mặt họ theo dõi ni cô.
Sau cùng, họ phát hiện ra là ni cô này có một “thói quen” lén thu âm lại tất cả các cuộc nói chuyện giữa mọi người trong đạo tràng.
Họ tịch thu được máy thu âm. Và sau nhiều tiếng liên tục ngồi nghe cho hết những gì có trong máy ghi âm đó, họ shock.
Bởi, không chỉ ghi âm lại các cuộc nói chuyện giữa các Phật tử mà ni cô còn thu âm luôn cả những cuộc trò chuyện giữa ni cô và ông thầy, đặc biệt là những voice message mà ông thầy nhắn lại cho ni cô, khi mà “sư phụ” gọi nhưng ni cô bận giận dỗi vì “ghen tuông” với nữ cư sĩ ở Việt Nam nên không thèm bắt phone. Nội dung các voice message đã tự tố cáo mọi điều.
Với bằng chứng đó, họ ép ni cô phải rời khỏi đạo tràng.
Trong lúc phụ ni cô thu dọn hành lý chất lên xe, các Phật tử lại thêm shock một lần nữa khi thấy sao mà ni cô có quá nhiều quần áo của đời thường, từ đầm đến vest, và cả giày Coach.
Đuổi được ni cô đi rồi, các Phật tử muốn tiếp tục truy vấn ông thầy với “hy vọng là cho mọi chuyện sáng tỏ, để không còn những điều như thế xảy ra.” Tuy nhiên, các Phật tử chưa kịp “ra tay” thì ông thầy lên tiếng trước: sư phụ từ chức trụ trì và sẽ rời khỏi đạo tràng.
Nghe vậy, các Phật tử xụi lơ. Tinh thần từ bi hỷ xả của nhà Phật được phát huy tối đa. Ai nỡ ép ông thầy vào đường cùng. Dù rằng lúc đầu mọi người muốn lên tiếng để cho ai cũng thấy được mặt trái của một người tu hành để những ai còn tô sùng hãy tỉnh ngộ ra. Nhưng giờ ông thầy thối lui rồi, thì thôi, bỏ, bỏ, bỏ hết. Người hướng Phật có bao giờ muốn dồn người khác vào bước đường cùng đâu.
Ừ, vậy cũng xong.
Chỉ có mình tôi, vô tình phải nghe cho hết đoạn ghi âm giọng ông thầy năn nỉ ni cô thì lại bị ám ảnh, chưa biết làm sao dứt ra được. “Thôi, A đừng giận nữa, đừng nghĩ ngợi lung tung, lúc trước sư phụ có nói chuyện nhiều với B nhưng từ ngày biết A thì đâu còn nói nhiều nữa, chỉ khi nào có chuyện cần thì nói một vài câu thôi. A không để ý thấy sao. Giờ sư phụ đâu còn nói nhiều với B nữa đâu. Từ lúc biết A, hiểu được A rồi thì trong lòng chỉ có thương B thôi. Đừng giận nữa nghe. Đừng buồn nữa nghe…..”
Câu chuyện tôi vừa kể có lẽ không phải là câu chuyện hiếm hoi và duy nhất xảy ra liên quan đến người tu.
Tôi không là một người mộ đạo, nhưng trong mắt tôi, những người tu hành khác lắm. Phải rất là khác. Bởi niềm tin tôn giáo của con người là thiêng liêng. Mà các ông thầy là người đại diện dẫn dắt họ đến niềm tin đó thì họ phải ở một nơi cao hơn những người như tôi nhiều.
Có thể ai đó cho rằng, thầy tu có tóc hay cạo đầu cũng đều là người, cũng đều có hỷ nộ ái ố của con người. Nên đừng trách họ có những dục vọng như bao người. Tôi không đồng ý. Bởi, nếu họ là người trần mắt thịt như tôi, họ có bao nhiêu dục vọng cũng là quyền của họ. Nhưng đã là tu, là con đường họ chọn, thì không thể dẫn lý lẽ của một người trần tục như tôi để mà bao biện. Ngay cả khi chọn nghề, chọn việc, người ta còn phải tuân thủ theo quy tắc nghề nghiệp của mình, thì đi tu cũng phải nằm trong quy tắc của đi tu.
Nhưng thêm một điều oái ăm tôi cũng không thể hiểu: tại sao con người lại tiếp tục có niềm tin vào những điều tệ hại đang diễn ra trước mắt như thế?
Những vị tu hành, có bị biến chất, phải chăng cũng từ sự từ tâm, hỷ xả của chính những con chiên, phật tử?

































































































