Duy Thức/Người Việt
Chiếc xe đẩy có bốn bánh nhỏ như hình cái tủ bằng gỗ, rỗng bên dưới, trên mặt ván lại có sào ngang chất đầy các món lặt vặt. Mọi lần các cô gái Bắc hay đeo tấm bảng lớn bên mình móc các thứ hàng nho nhỏ. Chiếc xe này cũng bán kiểu hàng như vậy nhưng là xe đẩy nên hàng hóa nhiều hơn.

Ông già bán xe tạp hóa. (Hình: Duy Thức/Người Việt)
Ông chủ chiếc xe bán hàng rong này khá nhanh nhảu khi tôi hỏi:
-Ông kiếm mỗi ngày khá không?
Ông đáp gọn:
-Khá không khá, chỉ đủ ăn thôi.
Nhìn mái tóc bạc phơ, hỏi bao nhiêu tuổi thì ông trả lời:
-Tuổi thì khá lắm. Mỗi năm tích lũy thêm một tuổi. Con cái thì trước khi vợ ngừng đẻ đã tới chín mười đứa rồi.
Tôi ngạc nhiên:
-Ông nuôi cả đàn bằng cái xe hàng đầy này sao.
Ông lắc đầu:
-Trời sanh voi sanh cỏ. Trước kia tôi làm nghề vác nước đá cây cho hãng nước đá ở bến tàu. Vác riết lưng bị trẹo cột sống phải nằm bệnh viện. Bao nhiêu tiền dành dụm tiêu tan hết. Vợ chật vật không nuôi nổi bầy con.
Thấy cả nhà nheo nhóc đói khổ quá nên tôi nảy ra ý định buôn bán kiếm sống. Thoạt tiên tôi làm nghề buôn muối với chiếc ba bánh nhỏ đạp rong suốt ngày. Muối bán ế, cũng chiếc xe đó chuyển qua bán chuối, bán khoai lang, khoai tây hoặc trái cây… mùa nào thức nấy cứ lấy sỉ ở các chợ đầu mối buôn bán lần hồi. Nhiều người ra bán quá. Dân nhập cư khắp nơi đổ vào thành phố toàn đi rong.
Rau quả bán không lại mấy cô ngoài Bắc vào trẻ trung khỏe mạnh, giọng rao lanh lảnh đầu xóm cuối hẻm nghe rõ. Còn tôi bệnh hoạn. Lại thêm vết đau xương sống bị ẹo vì vác nước đá nên đạp xe đã chậm chạp, lại rao hàng yếu chẳng ai nghe. Với lại rau cỏ phải bán hết buổi sáng. Xế chiều ế héo rũ, ngay cả bán tống tháo cũng không dễ dàng. Vì thế nhiều hôm phải len lỏi vào các xóm bình dân bán lỗ cho người nghèo. Bởi vậy tôi mới nghĩ ra một cách.
Tôi tò mò hỏi:
-Cách gì?
Ông nói:
-Khi đi ngang qua cửa hàng tạp hóa tôi nhận thấy họ bán không thiếu món gì cả. Từ cây kim, cuộn chỉ… đủ loại bánh nhập từ Thái Lan, Nam Hàn, Nhật… cùng với hàng Việt Nam. Gần như ai mua gì có nấy. Ngay cả không có cửa tiệm đàng hoàng vẫn có thể bán tạp hóa. Tôi bắt chước một người bán hàng đầu chợ. Bà chỉ có vỏn vẹn một cái thùng kính treo từ cái móc áo đến mắt kính, thau nhựa, cà vạt, áo thung, đồ chùi xoong chào, búa kềm nhỏ… Tôi đứng quan sát cả buổi thấy lúc nào cũng có khách hỏi bán lai rai. Không phải hàng tươi nên bán được mà không sợ thiu, héo đổ đi.
Thế là tôi đến chợ, chỗ đại lý có đủ mặt hàng mua một số hàng cần dùng hằng ngày, sau khi đóng chiếc xe thùng gọn hơn để dễ kéo đẩy qua các hẻm nhỏ trong khu phố. Hễ mấy bà nội trợ cần mua gì không có, hôm sau tôi bổ sung ngay. Dao kéo hay băng nhựa, keo dán hay ốp nhang, kiếng soi mặt cho đến các loại kem rẻ tiền thoa trắng da cho các bà các cô, cả dây nịt và các loại bóp giả da cá sấu cho đàn ông…, tôi đều có bán.
Ông vạch các gói hàng buộc chùm, chỉ vào từng món tiếp tục giới thiệu:
-Đây là dây xích đeo chìa khóa xe gắn máy, phong thư và tăm xỉa răng, móc ráy tai, khăn giấy và các loại viết bic đủ màu loại nét nhỏ và nét lớn, học sinh rất thích. Cả giấy tiền vàng bạc cho người chết và bao lì xì cho người sống.
Phong bì giờ có mấy ai dùng để gửi thư qua bưu điện, thế mà vẫn có khách mua, chắc là chỉ nhằm đựng tiền trao tay thôi. Toàn hàng hóa nho nhỏ rẻ tiền. Mỗi món chỉ độ vài ngàn cho tới mười mấy ngàn, cao nhất khoảng dăm ba chục ngàn nên dễ mua, dễ bán.
Ông kể một hơi rồi đứng vặn vẹo mình qua một bên như mỏi lưng lắm. Tôi mua vài gói long não và một cây dao cạo râu nhỏ xíu màu vàng dùng một lần bỏ đi. Loại này rất tiện. Cạo râu dễ và không bị đứt chảy máu như cạo bằng lưỡi lam.
Ông vội quảng cáo:
-Đây là hàng của Nam Hàn có dán hiệu đàng hoàng, lại dùng tốt và giá rẻ hơn dao cạo của Đức của Tây…
Tôi phì cười. Hàng Việt Nam mang tiếng quá nên dù ai nấy đều biết tất cả đều là hàng sản xuất trong nước, nhưng người bán vẫn dẻo miệng rao hàng ngoại quốc không chút ngại ngần. Nếu không phải Âu Mỹ thì cũng Thái Lan, Indonesia… ngay cả Lào, Cambodia… đều tốt. Nước nào xướng lên nghe cũng rất kêu, miễn không phải Việt Nam.
Tôi chợt nhìn thấy bên tủ kéo có cả mấy bộ bài tây, mặt nạ siêu nhân, súng nhựa đồ chơi cho trẻ con. Có cả cái trống bỏi, đầu lân và đầu ông địa nhỏ xíu bằng giấy bồi chắc là hàng Tết còn sót lại.
Bà hàng xóm chọn chiếc bàn chải chà sàn nước, hỏi tiếp:
-Vợ ông đâu? Con cái nghe nói nhiều mà sao không giúp đỡ để ông đẩy xe nặng nhọc nắng mưa như vầy.
Ông không giấu vẻ chua chát, kể lể nhân thể lúc được nghỉ chân chốc lát:
-Thằng đầu giỏi giang, bảnh trai nhất đi bỏ cà phê cho các hàng nước vỉa hè. Gặp lúc sau 75 dấy lên phong trào xì ke ma túy. Khu phố nào cũng ổ xì ke, đá gà và biên đề. Nó chơi ma túy đến chết mới thôi. Một loạt thanh niên chết trẻ vì ma túy cho tới khi nhà nước giật mình nhận thấy, ra tay thì đã khá muộn. Vợ nó lấy chồng sau là dân chơi chuyên nghề đòi nợ mướn, cho vay, đứa con gái lớn lên bỏ ngang không học hành, bắt đầu đi bụi đời hai năm nay rồi.
Thời gian bỏ mối cà phê cũng khá nên nó nuôi sống cả nhà. Mỗi con em út học hết trung học. Ra đời tấm bằng tốt nghiệp phổ thông làm gì bây giờ, đành lấy chồng ở nhà nuôi con thôi. Còn những đứa khác: Con trai phụ hồ, bán bong bóng, con gái phụ rửa chén quán cơm, giúp việc nhà theo giờ… Một thằng con trai không nghiện ma túy nhưng nghiện rượu, suốt ngày chỉ biết nhậu nhẹt và moi tiền anh chị em trong nhà.
Sống còn chẳng nổi nên rốt lại chẳng đứa nào để ý tới ông già bà già. Tôi đành đẩy xe này đi bán kiếm cơm qua ngày tự nuôi hai vợ chồng. Vợ bị thấp khớp, chân lết không nổi chỉ quanh quẩn trong nhà nấu cơm. Dư được chút nào để dành cho mấy đứa cháu nhỏ. Đến lúc già chắc là kiếm viện dưỡng lão xin vào nương dựa thôi.
Thấy vài ba người xúm lại, một cô gái cũng ghé vào mua một cái cắt móng tay. Người khác mua lược nhựa, nhang muỗi, cả cây như ý gãi lưng, quạt lụa và quạt giấy… vì trời bắt đầu vào cuối mùa khô, nóng ghê lắm.
Một chị dắt đứa con béo phì y hệt Doremon trong truyện tranh. Cậu bé chỉ tay đòi cặp mắt kính màu đen treo lủng lẳng. Người mẹ chiều ý cho con đeo cặp kính nhựa hàng rong mà không sợ hư mắt, nhìn vào như ông mù đi bán vé số vậy. Nói mù là lúc ông ta chống gậy mò mẫm đi bán vé số chứ tới chiều hết thời gian làm việc thì ông gỡ cặp mắt kính đen ra, đôi mắt tỏ tường đi ào ào về nhà.
Thời đại này mọi thứ đều dỏm cả. Thứ gì cũng rao một đằng bán một nẻo. Người ta quen dần nên chẳng ai thắc mắc. Ông lão lùn giở cái mũ xanh vải nhỏ che cả mang tai cho đỡ nóng. Trời đổ lửa nên ông mặc cái áo sơ mi tay dài che nắng ngoài áo thung bên trong. Vầng trán của ông đã ướt mồ hôi ròng ròng.
Ông già hỉ hả kêu gặp mối bán được khá nhiều. Với giọng khán khàn ông nói lớn tiếng:
-Sáng nay gặp khách mở hàng tốt vía nên tôi bán khá lắm. Cứ mỗi tuần tôi quay lại đây Thứ Tư, xin bà con mua giúp.
Ông xếp tiền lẻ ngay ngắn bỏ vào cái bóp cũ gần như rách nát. Bà hàng xóm nói:
-Ông bán nhiều loại bóp mới đó sao không dùng? Bỏ cái bóp cũ cho rồi.
Ông trả lời:
-Cái bóp này tuy cũ mà quí lắm vì vượng tài. Người bạn thân tặng và cưu mang tôi từ lúc lên Sài Gòn. Tôi dùng đã mấy mươi năm không muốn bỏ.
Bỗng ông nhăn mặt lại, dường như đốt xương sống lại đang đau nhiều. Ông lấy cũng từ trong bóp một viên thuốc chống đau và xin ly nước. Ông ực viên thuốc xong và nói:
-Cứ sống rồi mọi việc cũng qua thôi.
Ông cúi xuống, sùm sụp cái mũ vải che cả trán và im lặng đẩy cái xe như cái thùng gỗ chất đầy hàng hóa lầm lũi đi tiếp.






































































































