Thế hệ trẻ tiếp nối điều hành sinh hoạt Câu Lạc Bộ Sân Khấu Nhỏ

Thế hệ cô chú sáng lập CLB Sân Khấu Nhỏ trao lại trách nhiệm cho giới trẻ.

Thế hệ tiếp nối sinh hoạt.

Ðốt đèn cầy xong sẽ cắt bánh!

Em cắt bánh mừng CLB Sân Khấu Nhỏ bốn năm thành lập, nghe?

Chụp hình lưu niệm.

Các cô cắt bánh để các em mời khách và phụ huynh.
Em viết văn Việt
Thi Chính tả và Luận văn của Liên Trường Việt Ngữ Công Giáo, Giáo Phận Orange
Ngày lễ giỗ
Trương Mai Vy, 14 tuổi, Trường Việt Ngữ Tam Biên
Mỗi năm, gia đình em đi đám giỗ ở nhà ngoại. Ngày giỗ là ngày để nhớ đến những ông bà tổ tiên đã qua đời, nhưng ngày này cũng là ngày vui cho em cơ hội sum họp với cả gia đình.
Vào ngày giỗ, ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, cậu mợ, anh chị em họ, ai cũng gặp nhau ở nhà ngoại để tham gia trong ngày lễ này. Sau khi mọi người đã đến hết, trước tiên gia đình em cúng tổ tiên. Trên bàn thờ em thấy có hình ông cố và những loại trái cây như là xoài và cam. Sau khi xong, cả nhà chuẩn bị ăn với nhau. Em và em họ giúp lấy đũa và chén bát cho mọi người. Người lớn ngồi trên bàn, và con nít ngồi dưới ăn vui với nhau.
Trước mặt em có rất là nhiều thức ăn như là xôi, thịt nướng, chả giò, bánh bèo, v.v. Mỗi món khác nhau, nhưng món nào cũng ngon hết. Khi mọi người ăn xong, em giúp mẹ dọn bàn và rửa chén. Em ở nhà ngoại chơi với anh chị em họ tới chiều, trong khi người lớn nói chuyện với nhau ở dưới nhà. Khi mặt trời đã lặn, em biết một ngày rất vui đã hết. Em chào những người lớn trong nhà, và bố mẹ đưa em về.
Ngày lễ giỗ là một ngày mỗi năm dành để nhớ ơn ông bà tổ tiên đã mất. Nó là ngày trang nghiêm, nhưng cũng là một ngày vui vẻ để sum họp với gia đình.
(Giải Nhất trong kỳ thi Chính tả và Luận văn của Liên Trường Việt Ngữ Công Giáo Orange County)
———————-
Ước mong của em
Trần Tracy, 14 tuổi, Trường Việt Ngữ Tam Biên
Nhiều học sinh đã mong trở thành một người thành công. Em là một trong những học sinh đó và có ý tưởng như vậy. Những bạn bè em đã chia sẻ những của cải bạn mong muốn nhưng em không quan tâm vì em ước mong trở thành người thành công để mai sau em có thể giúp đỡ cha mẹ.
Em biết rằng cha mẹ đã cố gắng nuôi dưỡng em và hy sinh rất nhiều cho em được sống một đời thoải mái. Khi em đói, mẹ ở trong bếp nấu cho em một món được đầy đủ. Khi em đi chơi với bạn, cha đã bỏ thời gian ra để chở em đi cho an toàn. Cha mẹ không có được sướng [xứng] đáng như em bây giờ và bỏ ra tất cả cho em. Vì vậy, em muốn trả công cho hai người em yêu nhất và ráng chăm chỉ học giỏi. Em sẽ mang điểm cao về cho cha mẹ hạnh phúc và hãnh diện. Mai em ra trường thì em có thể kiếm việc làm tốt. Lúc đó, em mới có cơ hội để giúp đỡ cha mẹ khi đã già tuổi. Ðối với em, cha mẹ là tất cả và em mong ước để làm người thành công cho cha mẹ được vui.
Có một câu ca dao đã khuyên em về những công lao của cha mẹ to lớn như trời và đất. Khi em nghe câu khuyên này, ước mơ của em càng lớn hơn. Cha mẹ đã bảo vệ em và dạy dỗ em. Bây giờ đã tới lượt em để trở thành người thành công trong tương lai. Như vậy, cha mẹ em sẽ cảm thấy các sung sướng cha mẹ đã ban cho em.
(Giải Ba, cấp 3, trong kỳ thi Chính tả và Luận văn do Liên Trường Việt Ngữ Công Giáo Orange County tổ chức ngày 12 tháng 3 năm 2016)
Tâm tình thầy cô
Tiếng Việt tiếng Mỹ…
Thử bàn về Ngữ Pháp và Văn Hóa Việt Nam
Thu Lê
(Tiếp theo và hết)
Nói về sự khác biệt ngôn ngữ… văn hóa và ảnh hưởng hỗ tương của sự hình thành và phát triển của hai phạm trù này thì chúng ta hãy thử nhìn vào tiếng Việt của chúng ta. Tuy cùng là người Việt, nói cùng một thứ tiếng nhưng ba miền Bắc, Trung, Nam cũng có những từ ngữ, lối nói lối sống khác nhau, và cách ăn uống nấu nướng cũng khác nhau. Chỉ một động từ tiếng Anh là chữ “COOK” nghĩa là nấu chín (bằng sức nóng, bằng cách đun sôi, bỏ lò, hay chiên xào) mà chúng ta có thể diễn ta bằng bao nhiều từ khác sau. Chỉ riêng phần dùng nước và sức nóng để làm chín đồ ăn, chúng ta có thể: nấu, luộc, hấp, ninh, um, om, kho, bung (cà), tần (vịt), thổi (cơm), chao, trụng và… còn gì nữa? Những động từ này chắc không có trong kho tàng ngôn ngữ Việt thời nguyên thủy. Chắc phải nhờ tài nấu nướng muôn mầu muôn vẻ trong văn hóa ẩm thực của các bà nội trợ Việt Nam mới khai sinh ra các từ này và làm giầu cho ngôn ngữ Việt.
Tại sao lại “thổi” cơm thay vì nấu cơm? Có phải vì ở nhà quê có sẵn rơm nên người ta lấy rơm thay củi và phải thổi lửa đốt hết một đống rơm to tướng mới nấu chín một nồi cơm? Tôi còn nhớ những buổi sáng ở quê ngoại, tôi mò xuống bếp co ro trong tấm áo đơn, lấy cục than hồng còn lại trong đống tro để làm mồi hay cái bùi nhùi, ép một nắm rơm gần cục than, phồng miệng thổi cho lửa bắt vào rơm. Thổi cơm xong còn đám lửa tàn mà “lùi” một củ khoai vào đó cho chín thì phải biết là ngon vô cùng! Ðã một đôi lần tôi thắc mắc không biết văn hóa và ngôn ngữ cái nào có trước? không biết cái trứng có trước rồi nở ra con vịt hay con vịt có trước rồi đẻ trứng? Tôi thắc mắc nhưng không dám không dám hỏi ai về điều này sợ bị “quê.” Nếu các bà nội trợ Việt nấu nướng và làm giầu cho ngôn ngữ ẩm thực thì chắc văn hóa phải có trước cũng như mấy người thời tiền sử, kể từ lúc ở hang, kiếm ăn bằng cây cỏ, săn bắn đến lúc biết ngồi xuống trước đống lửa, biết hơ miếng thịt trên lửa để nướng cho thơm thì đã là có văn hóa và gọi nhau bằng tiếng hú hay ra dấu hiệu bằng tay thì có luôn ngôn ngữ rồi? Và em bé “thoạt sinh ra thì đã khóc chóe” thì chắc lại là có ngôn ngữ trước? Ðừng cười tôi lẩn thẩn nhé!
Các bạn cứ thử mở một cuốn tự điển Việt cỡ trung bình thường dùng ở nhà, không cần phải cuốn lớn như thường thấy ở các thư viện, mà xem. Các chữ khác thì chằng có gì đáng nói, nhưng thử tìm xem động từ ĂN có bao nhiêu chữ? It nhất là có 3 trang với hàng trăm từ ghép để thành động từ, danh từ hoặc tĩnh từ có chữ ĂN, áp dụng cho các trường hợp ở ngoài đời dù chẳng dính dáng gì tói chuyện ăn uống. Thí dụ như ăn cắp, ăn khách, ăn gian, ăn ảnh, v..v Trong khi đó nếu mở một cuốn tự điển tiếng Anh mà tìm chữ “EAT” thì giỏi lắm bạn thấy có được 1/4 trang với vài động từ ghép với các giới từ hay trạng từ như eat up, eat out và vài thành ngữ như “eat your heart out” “eat your words,” v.v Sự khác biệt về lượng này nói lên được điều gì về phương diện văn hóa? Có phải rằng văn hóa Việt của chúng ta coi trọng phần ẩm thực không? Người ta bảo “Miếng ăn là miếng nợ nần” mà. Lại nữa “Khách đến nhà không gà thì gỏi.” Có con gà nuôi ngoài sân, chỉ khi nào có khách quí đến mới đem vào “hy sinh” đãi khách. Mâm cao cỗ đầy, ăn uống linh đình để rồi ngày hôm sau khi tàn cuộc lại cơm rau thanh đạm. Tại sao chúng ta phải làm thế? Có phải tại trong một văn hóa không được dư thừa về phương diện vật chất, chúng ta sợ bà con làng xóm biết mình nhà nghèo (vì không đủ ăn)? Dù có nghèo túng thật cũng không muốn lộ cho ai biết, vì vậy có gì ngon nhất thì “nhịn miệng đãi khách”. Làm nhiều hơn sức người có thể ăn, không tính “sẵn” phần ăn mỗi người (để vừa ăn đã thấy hết), coi sự dư thừa đồ ăn là dấu hiệu của sự phồn thịnh, “có của ăn của để.” Hèn chi chúng ta thích chụp hình bên cạnh bàn ăn… và trước khi ăn, như một chứng tích của sự thành công, tiến lên một bực thang xã hội, lâu dần trở thành một tập tục và người Việt mình được tiếng là hiếu khách!
Trong khi đó, chúng ta nhận thấy các bạn bè Mỹ của chúng ta không vất vả hay quan tâm lắm về vấn đề ăn uống. Tôi đến chơi nhà một người bạn Mỹ, thư thả uống một ly ca phê hay nhâm nhi một vài cái bánh. Có khi ngồi nói chuyện đã đời chẳng ăn uống gì, cũng không ai thắc mắc. Văn hóa này không cho người ta những “nhãn hiệu” căn cứ vào chuyện ăn nhiều hay ăn ít, nhất là phần lớn đang cố nhịn ăn để thân hình được gọn gàng thon thả hơn. Riêng với người Việt chúng ta thì không phải rằng chúng ta chỉ chú trọng việc ăn cho no hay ăn cho ngon mà làm như sự quan tâm đó có bao hàm một sự hài lòng, mãn nguyện, một kiêu hãnh về bậc thang xã hội mà mình đang leo lên, một thành công (không phải về ăn uống) mà mình đang đạt được…
Bây giờ trở lại cuốn tự điển tiếng Anh, thử tìm chữ “TAKE” hay chữ “GET.” Các bạn sẽ thấy mỗi chữ có ít nhất 3 trang nhưng là take up, take off, take on, take out, take over… get up, get down, away, through… Mỗi chữ có một nghĩa khác nhau báo hại các học sinh ESL học muốn chết mà cũng không nhớ hoặc dùng lộn. Chữ PRENDRE của tiếng Pháp cũng kể là có khá nhiều. Ðiều đó nói lên cái gì? Có phải văn hóa Âu Mỹ là… thực tế, năng nổ hơn văn hóa Việt không? Người ta “nắm,” “giữ.” “lấy” cái gì ra cái nấy, tính toán rõ ràng, phân tích rành mạch để có thể là “go-getter.” Người bạn Âu Mỹ chắc phải là tháo vát, tự tin, năng nổ (aggressive), thực tế hơn người bạn Việt chăng?
Cách đây khá lâu, tình cờ tôi được một người bạn ở Pháp cho mấy trang bản thảo của một cuốn tự điển Việt Nam đang soạn. Theo lời anh bạn hồi đó thì thì một bậc lão niên ở Pháp là cụ Ðào Trọng Ðủ đang soạn một cuốn tự điển VN dưới hình thức văn vần. Cụ Ðủ chắc cũng nhận thấy chữ ĂN tràn ngập trong kho tàng ngữ vựng VN nên mới sưu tầm và viết ra những dòng thơ sau này. Tôi không biết sau này cuốn tự điển của cụ đã hoàn thành và đã xuất bản chưa, và cũng không rõ cụ có còn sống không? Nhưng tôi còn giữ những dòng thơ này và xin chia sẻ với các bạn để thấy tiếng Việt mình “giầu” như thế nào và văn hóa đã làm giầu cho ngôn ngữ ra sao:
Chữ Ăn
Chữ ăn ý nghĩa rồi rào
Tha hồ thi sĩ nghêu ngao ỡm ờ
Bị ăn cắp ngồi trơ mắt ếch
Vì ăn tham nên mếch lòng nhau
Ăn thừa vang vẻ gì đâu
Ăn gian ăn lận của nhau bấy chầy
Người túng bấn ăn vay từng bữa
Kẻ giầu sang ăn bửa từng xu
Ăn chơi quen thói lu bù
Ăn tiền hối lộ như “vu” mới là (tiếng Pháp “vous” = you)
Ống ốm nghén vì bà ăn rỡ
Cậu đi tu để mợ ăn chay
Trước khi ăn tiệc “mề đay” (tiếng Pháp me’daille = huy chương)
Học cho biết cách ăn mày huy chương
Chồng cặm cụi ăn lương nhà nước
Vợ ung dung hút thuốc ăn trầu
Tổ tôm ông phải ngồi chầu
Cái khàn không phỗng mặc dầu bà ăn
Mong chóng đến ngày xuân ăn tết
Tam cúc ai ăn kết xe điều
Bánh chưng bánh tét cho nhiều
Ðể dành ăn giỗ bao nhiêu cũng vừa
Ba ngày tết ăn bừa ăn bãi
Tết xong xuôi họ lại ăn chơi
Nhạc thời ăn nhịp cờ thời ăn quân
Người lao động cởi trần ăn nắng
Khách khuê phòng da trắng như ngà
Thiên nhiên sẵn đúc một tòa
Ðể cho ăn nắng chẳng ma nào thèm
Vãi nào vãi ăn khem suốt tháng
Sư nào sư ăn mặn quanh năm
Ăn ngồi rồi lại ăn nằm
Ăn kham mặc khổ Quan Âm độ trì
Ăn hương hỏa thiếu gì sung sướng
Ăn hoa hồng tôi tưởng bền hơn
Ăn thề là để rửa hờn
Nhân dân đầy đủ giang sơn vững vàng
Kẻ xấu thói ăn lường ăn lận
Người quen mui ăn bẩn ăn bây
Ăn lời ăn lãi không đầy
Bụng ta cũng vậy bụng tây khác gì
Người ăn xổi ở thì vô số
Kẻ ăn không nói có “da na” (tiếng Pháp,”je n’en ai pas-tôi không có cái đó?)
Ăn non rồi lại ăn già
Ăn gian cờ bạc mới là người ngoan
Ai chẳng biết làm quan ăn lễ
Ai không hay lính lệ ăn bòn
Ăn quèo ăn quịt mới ngon
Ăn quanh ăn quẩn vẫn còn ngô nghê
Ăn lót dạ tỷ tê rồi đói
Ăn thông lưng sành sỏi càng no
Ăn chung đổ lộn tự do
Ăn cầm chừng để vừa cho có chừng
Trai cướp vợ ăn mừng ỏm tỏi
Gái tranh chồng ăn hội linh đình
Ăn thua có một chữ tình
Ðể người ăn cắp rồi mình ăn năn
Ăn mới thực văn nhân tài tử
Ăn nguyên là văn tự quốc gia
Trăm năm trong cõi người ta
Không ăn thiên hạ cho là dở hơi.
Ðộng từ ghép “ĂN” nhiều vô kể
Xin chép thêm mong để chư tôn
Coi cho đỡ nhớ đỡ buồn
Vì còn tiếng Việt mới còn dân Nam
Ăn chung ăn đứt ăn tham
Ăn đụng ăn ké ăn gian ăn mày
Ăn cưới ăn rỗi ăn vay
Ăn vụng ăn bám ăn chay ăn lường
Ăn chèo ăn chục ăn sương
Ăn vạ ăn tái ăn đường ăn non
Ăn gẫu ăn hiếp ăn bòn
Ăn hại ăn vã ăn giòn ăn dơ
Ăn chặn ăn cướp ăn nhờ
Ăn gỏi ăn khớp ăn thua ăn vòi
Ăn rở ăn khách ăn lời
Ăn nhạt ăn cánh ăn chơi ăn dè
Ăn vặt ăn xổi ăn thề
Ăn ghé ăn chực ăn rê (?) ăn tiền
Ăn quẩn ăn hiếp ăn kiêng
Ăn bậy ăn bớt ăn riêng ăn phàm…
Thỉnh thoảng tôi có đọc lại những dòng thơ này và ước gì tôi có một lũ con cháu xung quanh để có thể ngồi đây đố nghĩa của chữ ĂN. Ước gì các con em và các cháu ở các trường Việt Ngữ hải ngoại có thể tham dự trò chơi của thầy cô và có thể cảm nhận tiếng Việt mà thầy cô đang truyền đạt. Ðầy là một niềm tin hay chỉ là một hy vọng hão huyền, không tưởng?

































































