Bác Sĩ Ðặng Trần Hào
Cổ thư có nói “có học Kinh Dịch mới học được thuốc,” như khẳng định một điều, Kinh Dịch và thuốc có liên quan với nhau.
Câu nói trên không phải bảo chúng ta phải học những diễn giả ở mọi quẻ, mọi hào trong Kinh Dịch, mà chỉ học về lý luận âm dương, ngũ hành, về lẽ một bên tiêu mòn, thì một bên lớn lên (tiêu-trưởng), bằng không sao rõ được Tượng-Bĩ và Thái.
Dịch là đổi dời, vạn vật trong vũ trụ luôn biến hóa tuần hoàn. Nho học gọi Dịch không khác gì Phật Giáo gọi là vô thường.
Kinh là hằng thường, vạn vật luôn dịch trong một thế bất dịch gọi là đạo, gồm có âm và dương. Cặp âm dương sinh thành vạn vật.
Kinh Dịch có thể mở mang khối óc ta về nhiều vấn đề: Y học, khoa học, đạo đức, chính trị âm nhạc, thiên văn… và nhiều vấn đề liên quan tới đời sống hiện tại của chúng ta.
Cho nên có học Kinh Dịch mới học được thuốc là hoàn toàn chính xác.
Ta hãy xem đồ tiên thiên và hậu thiên trong Kinh Dịch, thời lúc trước chỉ là vô cực là một vòng tròn tượng vô cực (khi chưa phân cực) hoặc thái cực (khi sự vật đã phân cực) mà trong đó có chia ra một nửa trắng là dương, một nửa đen là âm.
Vì thế có câu: “Từ số một sinh ra hành thủy” thời ứng với quẻ kiền (càn) là ba vạch đều liền nhau. Lại có câu: “Ðất số hai để thành ra” mà ứng với quẻ khôn là ba vạch đều đứt làm đôi. Số của dương lẻ cho nên quẻ kiền ở phương Tây Bắc, số của âm chẵn cho nên quẻ khôn ký cư ở phương Ðông Nam, thế là số về tiên thiên.
Rồi hai quẻ kiền và khôn nhân với nhau thành 64 quẻ, 64 quẻ nhân với nhau thành 384 hào (mỗi quẻ có sáu hào).
Số của quẻ kiền chu lưu 116 dương hào lẻ chín số, thời tiếp đến quẻ ly, vì quẻ ly là số 9.
Số của quẻ khôn, chu lưu 76 âm hào lẻ chín, số mà ứng với quẻ khảm.
Quẻ ly là chính Nam, quẻ khảm là chính Bắc, là số của hậu thiên.
Mời độc giả xem điểm tin buổi sáng thứ Năm, ngày 15 tháng 9 năm 2016
Nói về người, thời con trai mới sinh thuộc về dương mà là hình thể quẻ kiền. Con gái mới sinh thuộc về âm, về hình thể của quẻ khôn đều là tiên thiên.
Sau khi âm dương giao hợp thì quẻ kiền biến thành quẻ ly, quẻ khôn biến thành quẻ khảm. Quẻ ly ở giữa rỗng là hai hào dương, giữ lấy một hào âm, mà hào âm đứt làm hai. Quẻ khảm ở giữa đặc là hai hào âm giữ lấy một hào dương, mà hào dương liền, như thế là hậu thiện.
Trời bọc lấy đất, tức là khí dương bọc lấy khí âm, số của dương nhiều, mà của âm ít, cho nên khí dương thường dư mà khí âm thường thiếu.
Người ta bách bệnh phần nhiều bởi chân âm thiếu, thủy không dẹp dược hỏa mà quân hỏa, tướng hỏa, tam tiêu hỏa, tâm bào hỏa, ngũ chi hỏa rộng trở lên, hỏa ấy khiến cho thủy không bốc lên mà thành ra hình tượng quẻ hỏa-thủy vi tế.
Vì thế muốn dưỡng sinh để dài tuổi thọ, nên xem hình tượng quẻ kiền biến thành quẻ ly, thời tự nhiên tỉnh ngộ mà bớt tức giận, bớt tình dục để thủy thăng lên, hỏa giáng xuống cho hợp với hình tượng của quẻ thủy hỏa ký tế, thời khi âm hỏa bình khí, dương bị vít, hỏa yên ở địa vị, mà trong người được thái nhiên.
Thế mới biết đạo của Kinh Dịch và lý của nhà làm thuốc có liên quan với nhau.
Cho nên người thầy thuốc nghiên cứu thêm về Kinh Dịch, hiểu sâu về y lý âm dương, hiểu về y đạo và y đức là rất cần thiết trên con đường phục vụ tha nhân.
Ðức là gì?
Ðức là khả năng dùng đạo, sử dụng hai quy luật thống nhất và đối lập kể cả hai tính giản dị của âm dương.
Kinh Dịch hệ từ hạ nói: “Thiên địa chi đại đức viết sanh,” có nghĩa đức lớn của trời đất là sinh dưỡng vạn vật, cũng như nói: “Kiền đức, khôn đức, đức hạnh” của thánh nhân là nhờ khéo dụng đức tính giản dị, cương nhu qua hai câu thơ bất hủ của Lục Tượng Sơn: “Giản dị công phu chung cửu đại/Chi ly sự nghiệp cánh phù trầm.”
Y đạo là gì?
Y đạo là con đường hành y hợp tư nhiên theo đúng quy luật âm dương.
Con người có thân, cần có sức khỏe cường tráng. Âm dương thống nhất là vô bệnh.
Con người có tâm, mà sức khỏe của tâm là an lạc. Âm dương thống nhất là vô niệm.
Sức khỏe cá nhân lại không tách rời xã hội, mà sức mạnh của xã hội là hòa bình. Âm dương của xã hội thống nhất là vô cửu (không có lỗi).
Cho nên ngành y trong xã hội cần được nhiều ngành tương quan hỗ trợ thì y đạo mới trọn vẹn.
Y đức là gì?
Còn y đức là năng lượng sử dụng y đạo. Người thầy thuốc muốn rèn luyện y đức, khi học phải theo đúng truyền thống y đạo, khi làm đem lại cho người bệnh sức khỏe về thân, về tâm và góp phần xây dựng một xã hội, công bằng, nhân ái và hòa bình.
























































































