Bác Sĩ Đặng Trần Hào
Bài thuốc bổ khí huyết dùng hằng ngày để hỗ trợ cho những trường hợp khí và huyết suy yếu mà sinh ra bệnh.
1-Bài “Bát Trân Thang”
-Hoa kỳ sâm 9 gram
-Bạch phục linh 6 gram
-Bạch truật sao 9 gram
-Chích thảo 3 gram
-Thục địa 9 gram
-Bạch thược 6 gram
-Xuyên khung 3 gram
-Đương qui 9 gram
-Can khương 3 lát
-Đại táo 3 trái
Ý nghĩa: Bài “Bát Trân Thang” gồm bài “Tư Quân Tử” bổ khí hợp với bài “Tư Vật” bổ huyết. Thật ra khí huyết có thể cùng hư yếu cùng một lúc. Tuy nhiên không đồng đều, khí có thể yếu hơn hoặc huyết có thể yếu hơn.
Vậy huyết yếu hơn khí thì dùng bài “Tứ Vật,” bỏ xuyên khung (động huyết và hao khí). Bài “Tứ Quân” thì bỏ phục linh, vì phục linh tính ráo và sao bạch truật với sữa để bớt khô ráo.
Nếu khí yếu hơn huyết thì dùng bài “Tứ Quân” thang, thiếu khí tăng thêm sâm, giảm bài “Tứ Vật” và bỏ xuyên khung.
Gia giảm bài “Bát Trân Thang”:
-Nếu cơ thể lạnh có thể gia can khương, phụ tử hoặc quế bì.
-Nếu đau lưng gia đỗ trọng, tục đoạn.
-Nếu ho hen gia mạch môn, cát cánh, ngũ vị tử.

2-Bài “Thập Toàn Đại Bổ”
-Hoa kỳ sâm 9 gram
-Phục linh 9 gram
-Bạch truật 9 gram
-Chích thảo 3 gram
-Thục địa 3 gram
-Đương qui 9 gram
-Bạch thược 6 gram
-Xuyên khung 6 gram
-Hoàng kỳ 9 gram
-Nhục quế 3 gram
-Can khương 3 gram
-Đại táo 3 trái
Quế để riêng, chờ được thuốc mới bỏ quế vào, nắp bình thuốc đậy kín để quế khỏi bay hơi. Có thể dùng quế tâm thay cho nhục quế. Với quế tâm thì sắc chung với thuốc không cần để riêng.
Ý nghĩa: Bài “Thập Toàn” mười phần bổ cả mười nên gọi là “Thập Toàn” để chữa những chứng bệnh do quá hư yếu sinh ra như chóng mặt, choáng váng, hoa mắt đau đầu, da thịt khô khan, hoặc mồ hôi nhiều vì biểu hư, hoặc nóng do hư hỏa… đều có thể dùng bài này.
Bài “Thập Toàn” thiên về khí suy nhiều hơn là huyết suy vì có hoàng kỳ và quế bì, hoàng kỳ để sống thì cố biểu, nướng vàng thì ôn trung. Quế nóng dẫn hoa qui nguyên (về với gốc của hỏa ở tủy thượng thận và tuyến giáp trạng) tăng cường biến dưỡng cơ thể.
Gia giảm bài “Thập Toàn”:
-Bài “Đại Bổ Hoàng Kỳ Thang,” tức bài “Thập Toàn,” bỏ bạch thược, gia sơn thù, ngũ vị, nhục thung dung để chữa chứng dương hư, mô hôi ra không ngừng, tứ chi lạnh. Bỏ bạch thược vì bạch thược chứng hàn.
-Bài “Đại Phòng Phong Thang,” tức bài “Thập Toàn,” gia thêm phòng phong, phụ tử, đỗ trọng, ngưu tất để chữa bệnh hạc tất phong (đầu gối to lên như đầu gối hạc).
-Bài “Tam Tý Thang,” tức bài “Thập Toàn” bỏ bạch truật, gia đỗ trọng, tục đoạn, ngưu tất, phòng phong, khương hoạt, tế tân, tần giao, độc hoạt, can khương và táo sắc uống để chưa chứng tam tê (hàn tê, thấp tê và phong tê) làm chân tay đau nhức, co cắp.
Đại khái chữa về khí huyết đều dùng những bài như “Tứ Quân Tử,” “Tứ Vật,” “Bát Trân” và “Thấp Toàn Đại Bổ” rồi tùy đó mà gia giảm. Nên nhớ rằng bổ khí không gì bằng sâm, truật; bổ huyết không gì bằng qui, thục. Mạch lớn thì dùng qui, thục, mạch vi thì dùng sâm, truật là nguyên lý. Mạch lớn là khí vượng hơn huyết; mạch nhỏ là khí suy, có thể cả khí huyêt đều suy. Tuy nhiên dùng sâm, truật bổ khí, khí sinh ra huyết. Hoặc giả lấy sâm truật là quân mà lấy qui thục làm thần.
Học thuốc không cần thuộc nhiều bài thuốc, chỉ cần nhớ mấy bài như trên, thêm đọc sách và kinh nghiệm để gia giảm từ cổ phương. Y giả, ý giả chỉ một nguyên lý nhưng nhiều biến hóa. Còn dược vật thì có vài chục vị chính, tùy cách kết hợp mà ý nghĩa và công năng biến đổi. Cũng như bàn cờ, một bên 16 quân, cả hai bên là 32 quân thế mà không ván nào giống ván nào, thật muôn biến vạn hóa. Tuy nhiên cách xuất quân chỉ vài nguyên tắc chính. (Bác Sĩ Đặng Trần Hào)
[jwplayer clMtCNjp]























































































