Nguồn gốc của máu

BS Đặng Trần Hào

Nguồn gốc của máu do sự chuyển hóa của thức ăn. Sau khi bao tử nhận và tiêu hóa đồ ăn, tỳ (lá lách) phân tách và biến hóa thành chất bổ tinh khiết. Rồi tỳ khí chuyển hóa những chất này lên phổi. Trong khi chuyền hóa lên trên, cốc khí bắt đầu chuyển những chất cần thiết thành máu. Sự chuyển hóa hoàn hảo khi chất bổ tinh  khiết tới phổi, nơi đây đổ ăn đã chuyển hóa phối hợp với thanh khí từ bên ngoài vào và cuối cùng tạo thành máu. Và máu được phân phối đi toàn cơ thề là nhờ vào tâm khí phối hợp với bể khí ở ngực.

Máu còn gọi là âm

Máu còn gọi là âm,khí còn gọi là dương. Vậy máu với âm và khí với dương có đồng đẳng với nhau không? Tôi nghĩ là không.Vì máu đối với khí thì máu là âm,nhưng máu đối với âm thì máu là phần động của âm. Âm là thể, máu là dụng. Âm bao gồm những âm chất như thủy dịch nội ngoại bào… kể cả máu nữa.

Chữa máu, máu phải động như xuyên khung, đương quy. Chữa âm thì phải tịnh như thục địa, sơn thù du, hoài sơn.

Sự liên quan của máu

Ba tạng trong cơ thề đặc biệt liên quan với máu là tim, gan và tỳ. Máu phụ thuộc vào tim có nhiệm vụ điều hòa nhịp nhàng, liên tục và luân lưu trong cơ thể. Cho nên nói “Tim là chủ huyết mạch,” mạch do mạch máu lưu hành, tim với huyết mạch liên hệ chặt chẽ với nhau. Trong khi thúc đẩy sự vận hành của huyết dịch, tuy tim và huyết mạch có hợp tác với nhau, nhưng làm nên tác dụng chủ động vẫn là tim. Vì thế huyết có công năng dinh dưỡng, những vẫn phải nhờ vào sự hoạt động của tim mạch… Màu sắc biến đổi ở mặt có thề biết được sự thịnh suy, hư thực của ba thứ tim, huyết và mạch, điều này giúp phần nào cho sự chẩn bệnh trong lâm sàng.

Cơ thể con người cần ít máu khi ít hoạt động hay nghỉ ngơi, lúc này máu sẽ chuyển về gan và tổn trữ ở trong đó. Gan tàng huyết khác với tim chủ về huyết.

Sự hoạt động của các cơ phận trong cơ thể cần vào sự dinh dưỡng của huyết dịch, lượng lưu thông của huyết dịch thường tùy thuộc vào sự làm việc, nghỉ ngơi, động tĩnh, nên có sự thay đổi. Khi vận động nhiều thì lượng lưu thông của huyết dịch cần phải tăng thêm, khi nghỉ ngơi thì lượng lưu thông huyết dịch bớt đi. Công năng điều tiết lượng huyết như vậy là nhờ vào gan. Cho nên trong sách Tố vấn nói “Người ta ngủ thì huyết trở về gan.” Nêu gan mất chức năng tàng huyết thì sẽ xuất hiện chứng ngủ không yên.

Cuối cùng máu phụ thuộc vào tỳ khí, vì tỳ quan hệ chặt chẽ với huyết, không những sinh ra huyết mà còn có nhiệm vụ  thống nhiếp huyết dịch. Tỳ khí mạnh khỏe mới có thề duy trì được sự vận hành của huyết dịch mà không bị tràn ra ngoài. Nếu tỳ khí hư suy, mất chức năng thống nhiếp huyết dịch, thì huyết dịch sẽ chảy tràn ra ngoài mạch, tùy theo tạng phủ nào yếu, hay những phần cơ thề nào yếu mà xuất hiện các chứng xuất huyết khác nhau. Chúng ta thường thấy những người bị ung thu gan, hay trai gan tới thời kỳ cuối cùng, thường bị xuất huyết  mà không có cách nào làm ngưng lại được và phải chấp nhận theo định mệnh là như vậy.

Máu và khí thường có sự khác biệt với nhau, nhưng hỗ trợ và ràng buộc với nhau. Khí tạo ra, di chuyển máu, giữa máu trong mạch máu và tạng phủ. Còn máu thì nuôi dưỡng tạng phủ và điều hòa khí. Đây là sự liên hệ mật thiết giữa âm (máu) và dương (khí). YKĐP nhấn mạnh tới hai sự liên hệ chính giữa khí và huyết “Khí là điều hòa máu… máu là mẹ của khí.”

Máu và khí cần có sự hỗ trợ cho nhau. Lúc chúng ta nằm ngủ yên tĩnh thì thuộc về âm mà máu vẫn chẩy trong cơ thể. Máu chảy được trong cơ thể là nhờ tỳ khí, tâm khí,tính cường cơ, cường huyết quản… mà chảy được. Tim bóp,tính cường cơ, cường quản đều thuộc về khí, và những cái thuộc về khí đều nhờ máu mang thức ăn và dưỡng khí (O2) tới mà đủ khí để làm việc. Như vậy khí huyết phải có nhau như âm với dương vậy. Mất khí thì máu chết, thiếu máu thì khí cũng chết. Khí máu tồn tại cho nhau và vì nhau như hình với bóng.

Đông Y đã dùng dược liêu để trị bệnh về khí huyết rất là hiệu quả qua nhiều ngàn năm qua mà chúng ta không thể trối cãi được.

Sự mất hài hòa của máu

Có hai tính chất làm mất sự hài hòa của máu: máu suy và máu bị đặc hay đông lại.

-Máu suy thường xảy ra toàn thân, đặc biệt là ngũ tạng, lục phủ và những phần trong cơ thể là do không đủ chất bổ dưỡng đề nuôi máu. Khi máu suy xẩy có dấu hiệu như người xanh xao, chóng mặt, da khô, nắm mặt, mất ngủ, đau nhức tứ chi, người mệt mỏi,làm việc dễ bị mệt.

Khi ảnh hưởng tới lục phủ, ngũ tạng như tim chẳng hạn sẽ đưa tới hồi hộp, tim đập nhanh hơn. Ảnh hưởng tới gan sẽ gây ra mất ngũ, vì gan không đủ huyết đề tàng trữ vào đêm khi chúng ta nghỉ ngơi.

-Máu bị đặc hay đông sẽ làm tắc nghẽn và không di chuyển bình thường. Khi tình trạng này xảy ra, người ta thường cảm thấy đau như dao đâm, không sao chịu nổi, đứng ngồi không yên. Sự đau nhiều hay ít tùy thuộc vào sự nghẹt. Nếu tạng tim bị ảnh hưởng có thề đưa tới nhồi máu cơ tim, tim bị đột quỵ. Nếu bị nhẹ như tôi thường gặp tại phòng mạch như đau ở phí sau lưng trên, nơi với tay chéo qua không tới, vị trí này thuộc đường đi của kinh gan, từ đốt xương sống thứ bảy (T7) đi ra, nơi này hay bị vì chúng ta hay giận hờn, bực tức, lo nghĩ quá độ làm gan khí uất kết, đưa tới không đưa được huyết di chuyển bình thường và làm nghẹt huyệt tại nơi này, bệnh nhân đôi khi cảm thấy đau như dùi đâm, đứng không ngay được, đau rất khó chịu. Nếu chỉ bị nghẹt, sau khi châm cứu lần đầu ra là hoàn toàn trở lại bình thường. Còn trường hợp máu bị đông thì phải uống thuốc cho loãng máu. Khi máu đông cũng còn gây ra những bứu, những khối u đạc hay nước trong thận, tử cung, hoặc sưng tạng phủ như sưng gan… (Đặng Trần Hào)

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT