LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc giả viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm,… về đời sống và xã hội. Và, biết đâu, đây là cơ hội cho chúng ta, những độc giả, trở thành tác giả. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi bài (dưới 1,500 chữ) cho Người Việt qua email: [email protected].
***
Trang Ng.
Trong thời khắc nhá nhem trước lúc Sài Gòn ban hành quy chế giãn cách xã hội mùa COVID-19, tôi bắt đầu mong ngóng được thong dong ngắm những cung đường vắng lặng, yên ả, mượt mà như Sài Gòn của hồi ức xa xưa. Rồi, những cung đường vắng lặng, yên ả, mượt mà đã hiện ra; không như mơ, mà là ác mộng; không yên tĩnh, mà là điêu linh.
Từ quần thể thương xá đông đúc đến những khu chợ tự phát và cả các cụm quầy họp theo quán tính đời sống dân địa phương; từ những trục đường chính đến những quãng đường xương cá liền kề,… tất cả đều hắt hiu, lạnh lẽo, vô hồn, chẳng có ai, chẳng còn gì… ngoài những lời hẹn khai trương còn lưu lại trước cửa hàng, cơ sở kinh doanh, tiểu thương để lại từ trước Tết.
Suốt chặng đường dài từ vùng ngoại ô đến trung tâm Sài Gòn, từ khu đô thị Phú Mỹ Hưng qua bán đảo Thủ Thiêm,… nói cho ngay thì nào có gì thay đổi to lớn đâu, chỉ là sự thiếu vắng toàn bộ hệ thống quán xá vỉa hè và vũ trụ những người bán hàng rong di động gắn liền với vỉa hè đó thôi.
Vậy mà sao cả đô thị này bỗng chốc như bị rút ruột, trống huơ trống hoắc. thế mới biết vỉa-hè cùng với sức vận động của chúng bấy lâu nay đã không ngừng nhấn nhá, chấm phá những mảng màu đậm sắc riêng, hoàn thiện bức Canvas đô thị Sài Gòn.
Đời sống có còn không, khi vỉa hè thinh vắng?
Hồi tôi nhỏ xíu, mẹ tôi tích góp tiền đủ để sắm cái tủ lạnh Sanyo làm đông nước đá. Rồi, mẹ sắm thêm vài lô cốc nhôm, hằng ngày nấu nước sôi để nguội và đặt vào tủ lạnh cấp đông thành đá đem bán cho cô bác hàng xóm xung quanh. Dần dần, mẹ có hẳn lượng khách hàng thường xuyên mua đá cũng đáng kể. Thấy thế, các nhà hàng xóm khác người thì có nguồn cung ứng rau, người thì họ hàng có vườn trồng củ quả, họ mang đến gửi vào tủ lạnh của nhà tôi nhờ mẹ bán giúp; sau này mới biết thuật ngữ marketing gọi đó là bán-chéo (cross-sell).
Cứ thế chẳng mấy chốc mà mẹ quyết định mở hẳn cửa đằng sau nhà ra để khách người ta đến mua. Ít năm sau nữa, mẹ cũng mở hẳn cả cửa đằng trước nhà và trở thành một đại lý bán thực phẩm này kia. Nếu vẫn cứ tịnh tiến theo dòng mưu sinh đấy, cái viễn cảnh nhà tôi lấn ra vỉa hè để trưng dụng chúng thành điểm bán chỉ là sớm/muộn, như cái cách một dòng nước chảy dồn về chỗ lũng, thung.
Không nơi nào mà ý thức vận động theo chiều hướng đa nhiệm nó cao độ và linh hoạt như ở… vỉa hè. Chị bán canh bún xóm tôi vừa múc nước dùng, vừa tính tiền, vừa cà khịa khách hàng, lại vừa ghi nhớ biết bao cái ơi à kiểu như em không ăn hành, cô đừng lấy hẹ, bác thêm cho cháu đậu hũ nha. Thời gian còn buôn bán, trong lúc mẹ nấu cơm, tôi được giao nhiệm vụ trông cửa hàng. Tôi ngày đó cũng vừa cầm vở để học bài vừa canh hàng và bán hàng phụ mẹ; ý thức vận động theo hướng đa nhiệm tự dưng mà hình thành; riết rồi đến tận bây giờ, nhìn lại mới thấy, mình không thể ở không/ngồi không một phút giây nào cả.
Vỉa hè, từ lúc nào chẳng biết, đã hình thành trên khung xương của nó một cấu trúc giao thương thăng trầm, phó mặc và âm thầm được định danh thành một thể thức kinh tế phi chính thống; thậm chí có lúc cấu trúc giao thương này bị “đãi ngộ” như một đối tượng kinh tế phi pháp dẫn đến hậu quả hàng hoá bán trên vỉa hè bị tịch thu, người bán bị phạt vi phạm,… Khốn đốn đủ đường. Thậm chí có một dạo, người ta học theo Tây, bám theo Tàu, mô phỏng quy hoạch của nước này/nước kia trong khu vực để quay về càn quét, hăm he, xoá bỏ, vùi dập nền kinh tế vỉa hè, thay vào đó là dự kiến các mô hình u bướu ất ơ bất chấp cơ địa lâu đời của đô thị Sài Gòn.
Người ta không nhìn nhận rằng: cấu trúc giao thương được hình thành tự nhiên từ nếp sống của dân địa phương, khắc họa nét riêng đời sống khu vực, hàm chứa dấu ấn của thời kỳ mới là cấu trúc văn minh, có giá trị và bền vững theo dáng hình đời sống.
Sài Gòn là phải có vỉa hè và vỉa hè nhất định phải có con người ta buôn bán hằng ngày thì đô thị này mới thực sự nhuận sắc đời. Vỉa hè nhiều nhất có khi lại là quán ăn bình dân hoặc gánh
Hàng rong đặc sản vùng miền. Cũng đã có những nỗ lực hòng dựng lên các hệ thống quán ăn đương đại cùng với cái gọi là “concept” vỉa-hè. Thế nhưng, người ta có thể làm ra thiết kế mô phỏng vỉa-hè, tái dựng các biểu tượng vỉa hè nhưng không thể nào mang đến được cho những không gian giả lập này các thuộc tính đắc lực nhất của vỉa-hè ví dụ như một chút bụi đời để thấy chỉ có ta giữa đất trời; một chút chen lấn để phải nhúc nhích tương tác với nhau; một chút linh ta linh tinh huyên náo để bản Bolero đời sống cứ thế mà khiến cõi lòng con người ta rung động.
Buôn bán trên vỉa hè đôi lúc cũng đâu chỉ là tiền bạc, mưu sinh mà nó còn là một điều gì đó bảng lảng như hạnh phúc của cánh hoa bồ công anh lan tỏa giữa đời thường. Bà hàng xóm nhà tôi nghe đồn của cải biết là bao nhiêu thế nhưng sáng nào bà cũng đẩy xe ra vỉa hè trước cửa nhà tôi để bán bánh mì, chỉ để cho ai đó tiện đường thì có đồ ăn sáng.
Có người nói với tôi rằng: Họ thấy mình yêu đời sống này gấp triệu lần hơn khi mỗi sáng được dừng xe vỉa hè mua gói xôi, trưa ngồi vỉa hè ăn một dĩa cơm tấm “xà-bì-chưởng,” tối nép vỉa hè xì xụp tô hủ tiếu gõ thưởng lãm màn mưa mù mịt đất trời.
Vỉa hè Sài Gòn chẳng có số má gì trong đồ thị lên xuống của một nền kinh tế nhưng đó lại là nơi khắc hoạ rõ nét nhất cái cõi thịnh/suy của đời sống con người ta trong lòng đô thị này.
Và, đương mùa đại dịch COVID-19, trong sự lặng thinh của vỉa hè đã thấy âm vang tiếng lòng nức nở của cả một đô thị phồn hoa, tấp nập có tiếng đó giờ. (Trang Ng.)

















































































