Đông y chữa di, mộng và hoạt tinh

Bác Sĩ Đặng Trần Hào

Trong Đông y, thận là chủ của đời sống, là lâu đài của nước và lửa, là cư ngụ của âm và dương, và là sinh lộ của sống và chết.

Viễn chí là thảo dược có đặc tính an thần, khứ đờm và cường khí. (Hình: thuocdantoc.org)

Thận còn tàng tinh là nguồn gốc để bảo tồn nòi giống. Quá trình hoạt động của thận được gọi là quá trình thịnh suy của thận dương và thận âm. Đối với con trai cứ tám năm lại đổi một lần, và con gái bảy năm một lần, gọi là biến dịch cho thích hợp với từng giai đoạn của một kiếp sống.

Thận còn chủ cốt tủy vì thận có công năng sinh tủy, sinh xương. Thận còn sinh tủy và não bộ là bể chứa tủy. Ngoài ra thận còn chủ về thủy: Nước uống vào dạ dày, dạ dày và lá lách khi chưng bốc mà đưa lên phế, phế khí túc giáng, thì thủy dịch chảy xuống mà dồn về thận. Quá trình của nước từ ngoài vào cơ thể, rồi sau đi lên, đi xuống trong cơ thể là như vậy. Tuần hoàn giữa dạ dày, lá lách, phế và thận để duy trì sư thay đổi cũ mới của nước trong cơ thể, nên thận dương suy, sự thay đổi mới của nước bị trở ngại sẽ thành bệnh thủy thũng.

Di tinh, mộng tinh và hoạt tinh là những bệnh liên quan tới thận.

Di tinh là tự nhiên tinh khí xuất ra, chứ không phải do giao hợp mà có. Nguyên nhân gây ra bệnh do thận âm suy nhược, theo ngũ hành tương khắc.

Thận thuộc hành thủy và tâm thuộc hành hỏa, tương khắc nhau. Khi thận thủy suy, gây ra tâm hỏa không có chỗ tựa, tim đập nhanh hơn, nhất là về đêm âm và dương cách biệt nhau nhiều hơn, là nguyên nhân hồi hộp, thở hụt hơi, mơ màng, di tinh.

Khi thận âm suy không làm được công năng tàng trữ tinh dịch mà di tinh. Hay vì lợi dụng tình dục quá độ, khiến cho tinh khí bị khô kiệt vì thận không sinh tinh kịp. Ngọc hành không bền, sức lực suy yếu.

Di tinh là bệnh thường thấy trong nam giới, nếu không sớm điều trị, bệnh sẽ đi đến hoạt tinh, làm cơ thể suy yếu, mệt mỏi, nguy hiểm tới tính mạng.

Còn những người trông thấy người đẹp, tâm động, nghĩ đến dục tình, đêm nằm thường mơ mộng thấy ái ân, giao hợp, hoặc là mộng tinh, dù không mơ quan huệ. Tuy nhiên, cũng phải điều trị, dẹp lửa lòng thì thân tâm mới được tráng kiện và có đủ sức để tranh đấu trong cuộc sống hằng ngày.

Trị di tinh

Bệnh di tinh không mơ mộng mà xuất tinh, là do tâm hỏa vượng đưa tới vọng động. Dùng dưỡng tâm bổ âm, dưỡng dương, làm cho âm dương được hòa hợp, quân bình, tự nhiện mộng và di tinh đều hết.

Bài thuốc “Dưỡng Tâm Thang:”
-Viễn chí 4 gram
-Liên tử tâm 6 gram
-Mạch môn đông 9 gram
-Thiên môn đông 9 gram
-Toan táo nhân 9 gram
-Liên nhục 9 gram
-Cát cánh 9 gram
-Long cốt 9 gram
-Xa tiền tử 9 gram
-Đăng tâm thảo 3 gram
-Cam thảo 2 gram

Chủ trị:

-Viễn chí, liên tử tâm, toan táo nhân, liên nhục, đăng tâm thảo: Bổ âm, an tâm và liễm tinh, trừ phiền khát.

-Long cốt: An tâm và giáng hỏa.

-Cát cánh, mạch môn đông, thiên môn đông: Bổ phế, liên kết phế với thận làm việc thông điều thủy đạo, thanh tâm, nhuận phế.

-Xa tiền tử, cam thảo: Lợi tiểu, lương huyết và phối hợp các vị thuốc.

Trị mộng tinh

Bênh mộng tinh vì háo sắc, tình mơ, đêm nằm thấy giao hợp mà xuất tinh.

Bài thuốc “Thanh Tâm Thang:”
-Hoàng liên 3 gram
-Viễn chí 6 gram
-Sinh địa 12 gram
-Nhị hồng sâm 9 gram
-Đương qui 9 gram
-Phục thần 9 gram
-Liên tử tâm 9 gram
-Cam thảo 2 gram

Chủ trị:

-Hoàng liên: Thanh tâm hỏa.

-Viễn chí, phục thần, liên tử tâm: An tâm, ích thận, bổ tinh, thắng dương, trị đêm nằm mơ mộng, di tinh.

-Sinh địa: Bổ âm, thanh nhiệt.

-Đương qui: Bổ âm.

-Nhị hồng sâm: Dưỡng dương.

-Cam thảo: Phối hợp các vị thuốc.

Hoa của cây viễn chí mọc thành chùm, thường có màu trắng ở giữa và màu tím ở đỉnh. (Hình: thuocdantoc.org)

Trị di tinh lâu (hoạt tinh)

Bệnh di tinh lâu không khỏi, thành hoạt tinh, thận hư, thủy kiệt, hỏa động thành hư nhiệt, lao tổn, tinh thần bải hoải, hai mắt có khoen đen, hai chân đau nhức, yếu đầu gối, đau cụp xương sống, ăn uống không tiêu, liệt dương.

Bài thuốc “Cố Tinh Hoàn:”

-Đương qui 1 lượng (tẩm rượu sao)

-Bạch truật 1 lượng (tẩm rượu sao)

-Hoài sơn 1 lượng (tẩm rượu sao)

-Nhị hồng sâm 1 lượng (tẩm nước gừng sao)

-Tri mẫu 1 lượng (tẩm rượu sao)

-Phá cố chỉ 1 lượng (tẩm rượu sao)

-Đỗ trọng 2 lượng (tẩm gừng, muối sao)

-Hoàng bá 1 lượng (tẩm rượu sao)

-Tỏa ương 2 lượng (tẩm rượu sao)

-Thục địa 2 lượng (tẩm rượu sao)

-Nhục thung dung 2 lượng (tẩm rượu sao)

-Mẫu lệ 1 lượng

-Câu kỷ tử 1 lượng

-Phục linh 2 lượng

-Mẫu đơn bì 1 lượng

Tán thành bột thật nhuyễn, đổ mật ong vào nhồi kỹ và làm thành viên to bằng viên bi. Ngày uống hai lần, mỗi lần năm viên vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và tối lúc đi ngủ. [qd]

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT